Khi nhà vua chạy trốn - Chương 7
Suốt ba tuần lễ
sau ngày nhà vua chạy trốn và bị bắt trở lại, người dân Paris tiếp tục tham khảo
ý kiến trên khắp các tỉnh thành. Đối với câu lạc bộ Cordeliers, một cuộc trưng
cầu ý dân toàn quốc là cần thiết trước khi có bất cứ quyết định nào về số phận của nhà vua, và hội viên của
họ hy vọng rằng đa số người dân sẽ lựa chọn thể chế cộng hòa. Ngược lại, cánh
trung lập lại tin rằng người dân Pháp từ thủ đô đến miền quê sẽ hậu thuẫn vương triều một cách áp đảo. Trong lúc đó, Hội
Đồng Cách Mạng Quốc Gia đã trì hoãn quyết
định của họ về việc thẩm vấn, một phần để chờ phản ứng của các vùng nội địa, những
phản ứng mà trong các bức thư các đại biểu gửi về cho đơn vị cử tri của họ đã
nhiệt tình kêu nài gạ gẫm. Nói vắn tắt là
mọi người ý thức rằng Paris không phải là toàn thể nước Pháp và rằng quan điểm
về nhà vua của đại đa số công dân vẫn chưa được biết đến. Nói chung là mọi người
đang chờ người dân Pháp lên tiếng.
Và cuối cùng người
dân đã lên tiếng. Đằng sau tất cả những âm thanh và sự phẫn nộ của sự động viên
toàn quốc,tổ chức phân chia đội ngũ các vệ binh, củng cố phòng thủ biên giới, đàn
áp những thế lực tình nghi để ngăn ngừa, mọi người bắt đầu tự hỏi về số phận của một con người mà những hành động
của người đó đã gây nên toàn bộ các sự kiện. Họ cần giải thích rõ rệt về việc
biến mất bất ngờ của vua Louis? Việc đó có hàm ý gì đối với Hiến Pháp mới mà HĐCMQG
đang gặp khó khăn để hoàn thành? Vị trí nào, hay có một vị trí nào cho một vị
vua, dù là nhà vua này hay bất cứ nhà vua nào khác, trong cái thế giới mới mà các
nhà Cách Mạng hy vọng xây dựng lên?
Một công dân vua
Những câu hỏi như
vậy đặc biệt làm người dân cả nước đau lòng và bất an không thua kém người dân
Paris, những người đã nối kết với vua bởi một sự ràng buộc đặc biệt về cảm xúc và
truyền thống. Dĩ nhiên, cá nhân các vị vua không thể nào được đứng ngoài sự bị khiển
trách. Hai người tiền nhiệm của nhà vua hiện tại: Vua Louis XIV và Louis XV thường
là chủ đề của những chỉ trích châm biếm từ cả giới trí thức và giai cấp thường
dân. Tuy vậy, khác với thanh danh của cá nhân các vị vua, cái huyền thoại của vương
triều lại tồn tại với sức mạnh lạ thường. Nó được xây dựng lên từ một loạt danh
sách các truyền thống lịch sử cổ xưa, những huyền thoại trần gian cũng như trên
các hình ảnh của các vĩ nhân thu góp được
từ các triều đại thế kỷ 17 và 18 qua sức mạnh quân sự và sự huy hoàng tráng lệ
của các lâu đài và cuộc sống của triều đình. Cả người lớn đến trẻ em tại Pháp
tiếp tục phô bày một nền văn hoá dân gian về những câu chuyện quần chúng nơi mà
sự hiện hữu của một vương triều và lý tưởng của một quân vương đức độ được duy
trì một cách đương nhiên, ngược lại với những ông vua tồi tệ hay những ông vua nhu
nhược được cố vấn sai trái. Cho tới khi chế độ cũ chấm dứt, nhiều người trong số
những tầng lớp thấp kém vẫn có niềm tin vào “cái chạm tay của vua” khi họ cho rằng
quyền lực thần kỳ của vua chữa khỏi chứng bệnh tràng nhạc (scrofula), loại bệnh làm da sưng phồng. Và đức hạnh của vua Henry IV, vị vua đầu tiên
của dòng họ Bourbon, sức mạnh của ngài, ý thức cao và tình yêu thương thần dân
của ngài vẫn còn được nhắc đến vào buổi ban đầu của cuộc Cách Mạng khi người dân
muốn diễn tả một chúa thượng lý tưởng. Quả thực, từ 1789 đến năm 1791, nhà vua
Louis XVI thường được so sánh với nhà vua Henry lý tưởng.
Chắc chắn hình ảnh
vương quyền đã được gợi lên trong nhiều thập niên trước năm 1789. Trong nhiều
thế kỷ đã có đủ loại các thành ngữ được mô tả để ca tụng sự vĩ đại của vua: nhà vua là một dũng sĩ vĩ đại, một phán quan chính
trực, một lãnh chúa cao ngất. Nhưng vào buổi đầu Cách Mạng, hình ảnh của nhà
vua như một vị cha già dân tộc, một sự đặt tên được nói đến ít ra từ thế kỷ
XVI đã đạt đến ưu thế. Chẳng có gì nghi
ngờ khi cho rằng hình ảnh đó được chính vua Louis XVI khuyến khích một cách có ý
thức. Nhà vua vô cùng tự hào về sự thành công trong nhiệm vụ làm cha
của riêng ông, một thành công đạt được sau một thời kỳ dài thất bại về đời sống
tình dục và hỗn loạn tâm lý, và việc nhà vua đặc biệt thích thú với việc nuôi
dưỡng con cái. Nhà vua liên tục xử dụng ẩn
dụ về tình phụ tử trong các diễn văn gửi tới HĐCMQG. Louis XVI cũng làm tương tự
tại Varennes, khi ông tiết lộ thân thế của mình cho những “đứa con trung thành”
của ông tại nhà ông Sauce. Dĩ nhiên, hình ảnh cha già, cũng như hình ảnh của
vua, có những ý nghĩa phức tạp và đôi khi mơ hồ. Nó có thể ám chỉ hình ảnh gia
trưởng trong một uy quyền gần như tuyệt đối theo luật và theo tập quán đối với
vợ con, một hình tượng với khuôn mẫu vươn xa tới khái niệm tôn giáo về ngôi thứ
Nhất Thiên Chúa Cha đầy quyền năng. Nhưng khi hình ảnh được một thành phần lớn của người dân có giáo dục bám chặt lấy vào cuối
thế kỷ XVIII, hình ảnh vua như cha già dân tộc có được nối kết trên hết với cái
mốt thời trang văn chương về một giai điệu
mang gia đình tính. Trong ca kịch và văn
chương thời kỳ này, đã có biết bao lời ca ngợi cho hình ảnh “người cha tốt lành,”
một người cha không độc tài mà thích hòa giải, ngay cả bình đẳng với vợ con, đối
xử với mọi thành viên trong gia đình như bạn hữu và người đồng hành.
Không thể có sự
sai lầm khi nói về cảm giác kính trọng đối với Louis XVI trong bản danh sách các
bất mãn năm 1789. Hàng ngàn thư từ chính thức đã được người dân Pháp tấu trình
lên năm 1789 trong cuộc bầu chọn đại biểu chung. Hầu hết mọi người tiếp tục thỉnh
nguyện nhà vua với danh từ truyền thống của danh dự và cứu xét từ “Hoàng thượng”
hay “điện hạ” đi song hành với những thành ngữ
thỉnh nguyện thư chính thức: “Khẩn nài Hoàng Thượng anh minh ban cấp cho
điều này điều kia là các diễn tả thông thường nhất.” Hơn một nửa các danh sách
về những bất mãn đã mở đầu bằng những lời ca ngợi nhiệt tình đối với nhà vua trị
vì và có trên một phần ba cố liên hệ tới đức tính phụ tử của vua. Nhiều người
thêm vào tính nhân hậu và có khoảng một phần tư nói đến tính công minh của vua
mặc dù không ai nói đến sức mạnh quân sự.
Gần một phần năm đặc biệt xử dụng từ ngữ “thiêng liêng” đối với vua, mặc
dù từ ngữ này thỉnh thoảng xử dụng khi nói đến những khái niệm trừu tượng, chẳng
hạn như “quyền sở hữu tài sản thiêng liêng” hay “Hiến Pháp thiêng liêng”, không
chỗ nào khác mà nó được dùng để diễn tả một cá nhân chuyên biệt. Đó là sức mạnh
văn hóa của sự huyền bí của vương triều kết hợp với lòng biết ơn đối với hành động
vua Louis cho triệu tập đại hội nghị các thành phần giai cấp mà nó giải thích
việc hầu hết các người yêu nước đã tỏ ra
bao dung và tha thứ cho nhà vua reong suốt
2 năm đầu của cuộc Cách Mạng.
Chúng ta đã nhìn
thấy điều đó kể từ tháng Mười 1789 nếu không sớm hơn, vua Louis đã tự mình đeo đuổi
một chính sách lừa gạt. Ngay cả trong lúc nhà vua công khai chấp nhận những luật
lệ mà HĐCMQG gửi đến cho ông, ông cũng bí mật loan báo cho nhà vua Tây Ban Nha
rằng ông phải ký những luật đó dưới áp lực. Nhưng nói chung người dân Pháp không
biết gì về việc này. Những nhà ái quốc trung hoà, với quyết định củng cố thể chế
quân chủ lập hiến, đã dùng hết quyền hạn
của họ để cổ động cho hình ảnh của Louis qua những bài diễn văn và những trình
bày được xếp đặt công phu mà họ đã thuyết phục nhà vua làm theo. Và nếu chúng ta phán xét qua những bức thư ào ạt gửi đến HĐCMQG, sự nổi
danh của Louis có thể đã gia tăng trong 2 năm đầu của Cách Mạng. Không lâu sau
bài diễn văn của nhà vua đọc trước các đại biểu tháng Hai 1790, thị trấn Ernée
nhỏ bé đã viết: “Thật là một ngày hạnh phúc và đầy phúc lành được ghi nhớ mãi mãi
khi nhà vua đức độ nhất, người lấy lại tự do cho dân Pháp, người cha dịu dàng của
tổ quốc, sự hiện diện của người đã làm rạng
danh Hội Đồng và cho tất cả thần dân của
người.” Các nhà lãnh đạo tỉnh Troyes cũng không kém nhiệt tâm khi diễn tả sự liên
hệ tình cha con với nhà vua: “Con cái của người cha chung lắng nghe lời nhà vua
và đoàn kết sau lưng người như người mong muốn. Cái tình phụ tử của nhà vua đòi
hỏi chúng ta chứng minh cho tình yêu đó.”
Có thể chắc chắn
rằng cuộc Cách Mạng đã giảm thiểu đáng kể quyền lực của vua. Hiến Pháp đã biến đổi vị thế của vua từ một vị
vua toàn quyền thành một người chỉ đứng
đầu ngành hành pháp, với các quyền lập hiến giống như các quyền hạn của tổng thống
Mỹ chỉ vừa mới được thiết lập ở bên kia bờ Đại Tây Dương. Tuy vậy, đối với hầu
hết người dân, cái cảm giác đặc biệt bán phần mang màu sắc tôn giáo của vương
triều vẫn tồn tại. Họ tiếp tục tin tưởng rằng nhà vua ủng hộ Cách Mạng và rằng
cuối cùng ý nguyện của vua và của đất nước sẽ luôn luôn song hành. Sự hiểu biết
sơ sài về những nhận xét bình phẩm của nhóm câu lạc bộ Jacobins vào nửa đầu năm
1791, mà trong số có người hối thúc nhà vua ra lệnh cấm các giáo sĩ ngoan cố vào
triều đình, đã bị áp đảo bởi một loạt các lời cảm kích và tôn trọng. Thị trấn nhò bé Coudray không xa Paris đã diễn
tả sự phẫn nộ của họ đối với những hành vi bạo động xảy ra tại hoàng cung vào
ngày 28 tháng Hai và làm sỉ nhục tới một
nhân vật thiêng liêng là nhà vua chúng ta. Khi nhà vua đau ốm với chứng viêm họng
vào tháng Ba năm đó, hàng trăm hội đồng thị xã và câu lạc bộ Jacobins đã tổ chức
những buổi thánh lễ long trọng để cầu mong nhà vua chóng bình phục, và hầu như
mọi phố thị đã tưng bừng tổ chức lễ tạ ơn khi họ biết nhà vua đã hoàn toàn bình
phục. “Thiên Chúa người cai quản vận mệnh của mọi quốc gia không muốn cướp đi
khỏi chúng con, người ủng hộ mạnh mẽ nhất, là cột trụ vững chắc cho hạnh phúc của
chúng con. Giáo hội chúng con ngân vang lên lời cầu nguyện tạ ơn” (Laval thuộc
miền Tây nước Pháp). “Như đàn con nuôi của hoàng đế Henry vĩ đại, chúng con sẽ
mãi mãi gắn bó với vị vua dòng Bourbon này
để xứng với danh người và đáng quý với tổ quốc” (Belly thuộc miền Đông).
“Xin Thiên Chúa che chở thần tượng của đất nước” (Bourges thuộc miền trung nước
Pháp). Vài tuần sau đó, thị trấn Châteaurenard nhỏ bé thuộc vùng tỉnh Provence đã
mở màn một bức tranh chân dung nhà vua vẽ trên bức tường của toà
thị sảnh thị trấn và viên thị trưởng vừa mới
được bầu đã đọc một bài diễn văn cúng hiến cho vua. Ông phát biểu: “Đức
vua Louis đã tạo nên một mối quan hệ hoàn
toàn mới với thần dân của ngài, vì thế dường như không thể xếp ngài vào chung
thể loại với các vị vua khác. Các
vị vua tìm sức mạnh của quyền lực qua việc xử dụng bạo lực khủng bố, nhưng vua Louis XVI chỉ thể hiện sự
tự tin có được qua đức độ của ngài. Các vị vua đòi hỏi sự tôn kính và tuân thủ,
còn vua Louis chỉ yêu cầu có được tình con dân yêu mến. Các vị vua ước vọng là
những chúa tể của thần dân, vua Louis chỉ muốn là người cha thân yêu của dân tộc.
Các vị vua làm mọi thứ để trói buộc tự do của dân, Louis thì hoàn trả lại hết cho chúng ta. Ngài là bạn hữu của nhân loại,
là một công dân vua.”
Vào buổi tối sự
kiện Varennes, khắp các tỉnh thành trong nước, tuyệt đại đa số người dân Pháp
tiếp tục tỏ ra có tình cảm, ngay cả với
sự tôn kính với cá nhân nhà vua. Họ tiếp tục nghĩ về vương triều như một trung
tâm, một nơi cốt yếu của tình đoàn kết và sự gắn bó của quốc gia.
Những giọt lệ máu
Có lẽ chính cái
cường độ mạnh mẽ về sự gắn bó với nhà vua đã thúc giục nhiều người dân Pháp nhớ
lại kinh nghiệm của họ về những ngày bi thảm sau chuyện chạy trốn của nhà vua.
Trong khoảng từ 21 tháng Sáu đến cuối tháng Bẩy, có trên 650 lá thư mà ban bí
thư của HĐCMQG đã nhận được từ khắp các bộ phận tập trung trên cả nước, từ mọi
ban ngành, mọi thị trấn lớn nhỏ và cả từ một số làng mạc đáng ngạc nhiên. Mục đích
của đống thư tín liên lạc này là để tái khẳng định lòng trung thành với HĐCMQG
trong cơn khủng hoảng chính trị quá lớn lao này kể từ khi có cuộc Cách Mạng. Nhưng
đa số các lá thư chứa đựng những bày tỏ đau lòng về việc thay đổi thái độ đối với
nhà vua trong sự đối mặt với khủng hoảng. Các hội đồng quản trị thị xã, các câu
lạc bộ yêu nước, các đơn vị vệ binh quốc gia, hội phụ nữ, các toà án khu vực và
đủ loại các công dân đã gửi đến những báo cáo, các báo cáo này rõ ràng do các
nhân sĩ ưu tú địa phương soạn thảo, nhưng thường do hàng chục, hàng trăm người
ký. Gom chung lại, những thư tín này họp thành một sự bỏ phiếu của ý kiến dân tỉnh
lỵ theo thời gian, khi người dân cả nước cố tiến tới một thoả thuận với nhà vua
và vị thế của vua đối với đất nước sau vụ Varennes.
Vào những ngày đầu
của cuộc khủng hoảng, sau khi người dân đã nghe tin nhà vua biến mất nhưng vẫn
chưa biết việc hoàng gia bị bắt lại, các phản ứng tuỳ thuộc vào sự đo lường về
việc tin tức được loan truyền như thế nào và từ người nào. Những thỉnh nguyện
thư của các câu lạc bộ tại Paris và các tường thuật của báo chí cấp tiến tương
đối nhẹ nhàng với việc nhà vua mất tích. Nhưng các loan báo đầu tiên của chính HĐCMQG
lại mù mờ hơn, không hề nhắc đến bản tuyên bố chống Cách Mạng của nhà vua và còn
để một khoảng trống lớn cho người ta hiểu lầm rằng hoàng gia bị bắt cóc sao đó.
Nhiều nhóm người dân tỉnh lỵ đã nhiệt tình chấp nhận một kịch bản như vậy và
cho nhà vua quyền “vô tội cho đến khi tội trạmg rõ ràng”. Nói chung, gần một phần
ba những thư tín đó tiếp tục giữ cái quan điểm tích cực và thông cảm với nhà
vua trong thời gian đầu của cuộc khủng hoảng này. Họ cay đắng nói về một tội ác
kinh khủng về việc bắt cóc nhà vua và hoàng gia, về những tên quái vật của nhân
loại dám làm chuyện bắt cóc một vị vua đức độ nhất trong các vị vua và về một
nước Pháp giờ bỗng thành trẻ mồ côi. Nhóm Jacobins tại Arras, một chi nhánh luôn
luôn có sự liên hệ mật thiết với Robespierre đã vô cùng chua chát với biến cố này
trong phản ứng đầu tiên của họ. Họ than vãn: “Chúng đã bắt nhà vua đi, một vị
vua chỉ biết sống cho thần dân của ngài, một vị vua thường tỏ ý tôn trọng HĐCMQG,
và các hành động yêu nước của ngài chứa đầy công bình và sự thật. Khi họ nghe
tin rằng đã tìm được nhà vua và ngài đã trở về Paris, nhiều thị trấn tỉnh lỵ đã
tự phát tổ chức ăn mừng. Chỉ trong ít phút, trước sân của thị sảnh thành phố
Rouen tràn ngập số lượng người cả nam lẫn nữ bị thu hút bởi tin tức về sự kiện
một cách kỳ lạ. Họ diễn tả nỗi vui mừng bằng một cuộc khiêu vũ đến tận ba giờ sáng.
Khắp nơi, chuông nhà thờ đổ, pháo bông, lễ tạ ơn và những lễ hội công cộng khác
đánh dấu giây phút, mà theo Limoges diễn tả, với sự chua xót đắng cay biến thành
niềm hân hoan vui sướng.
Nói chung, chỉ đến
cuối tháng Sáu thì người dân vùng tỉnh mới bắt đầu đánh giá đầy đủ cái ý nghĩa
của các sự kiện vừa mới tiết lộ và cái khủng hoảng về lương tâm thực sự mới bắt
đầu quét qua khắp nước Pháp. Khi HĐCMQG đi vào thời điểm khoảng ba tuần lễ của
giai đoạn hoà hoãn, xếp đặt một sự trì hoãn về việc xét xử nhà vua, thì các tuyên
bố chính thức của Hội Đồng không còn là nguồn thông tin cốt yếu cho các tỉnh thành nữa. Các thị trấn tràn ngập
thư từ và thỉnh nguyện thư chạy lòng vòng từ các câu lạc bộ và khu vực tại thủ đô
và báo chí Paris ở đủ mọi xu hướng chính trị. Đặc biệt, số lượng lớn các báo chí
đã mở ra rộng rãi hàng loạt các thông tin và luôn có các bình luận diễn giải. Câu
lạc bộ ái quốc tại Vendôme giải thích: “Nền báo chí công cộng đã tiếp tục giúp
chúng tôi phát triển ý kiến của chúng tôi. Như mọi người dân Pháp, chúng tôi
theo sát cái nhịp điệu bình thường của báo chí xuất bản. Có nhiều trường hợp chung quanh chuyện chạy
trốn của vua đã bị bỏ sót hay bị kiểm duyệt trong các văn bản đầu tiên của Hội Đồng. Chính nhờ báo
chí lớn nhỏ mà người dân các tỉnh lỵ mới nghe
được về sự đón chào với sự bất mãn
của dân Paris trong chuyến trở lại Paris của hoàng gia ngày 25 tháng Sáu và những
nỗ lực của nhóm Cordeliers để buộc nhà vua thoái vị. Chỉ đến lúc này họ mới biết
đến bản tuyên bố của cá nhân nhà vua mà trong đó ông hàm ý phủ nhận lời tuyên
thệ trước kia của ông và chối bỏ các nghị quyết của Cách Mạng mà trước đây ông đã
ký thành luật. Các nhà lãnh đạo địa phương tại Toulon lần đầu biết đến lá thư của
vua vào ngày 1 tháng Bẩy. Khi người dân tại Bergerac thấy lá thư đó bốn ngày
sau đó, họ lập tức công khai đốt cháy một bản sao của nó tại công viên thị trấn.
Để đánh giá khối
lượng lớn thông tin này, các câu lạc bộ ái quốc địa phương đóng một vai trò đặc
biệt quan trọng. Vào giữa năm 1791 có hàng trăm các câu lac bộ như vậy được thành
lập, bao gồm khoảng 400 trực tiếp quan hệ với nhóm Jacobins tại Paris. Nhưng mặc
dù các câu lạc bộ vùng tỉnh theo dõi sát các cuộc tranh luận của đám Jacobins tại
thủ đô, họ không bao giờ mù quáng hoàn toàn phụ thuộc vào cơ quan trung ương chính.
Nhà đại lý Anh quốc William Miles đã ngạc nhiên với sự thay đổi liên tục về tư
tưởng trong đủ loại các hiệp hội trên cả nước, một diễn tiến làm ông nhớ lại về
“cái hành lang thì thào” của đại thánh đường Saint-Paul, cái lối đi vòng quanh
bên trong cái chỏm cầu vĩ đại tại London mà khách thăm viếng có thể nghe thấy
người khác nói dù đứng ở bất cứ chỗ nào. Với các câu lạc bộ Jacobins tại Paris
không thể tiến tới một sự đồng thuận, các câu lạc bộ tại tỉnh thành càng trở nên
độc lập hơn cả về phạm vi và về các chủ đề của cuộc tranh cãi của họ. Hàng tá các
hội đoàn bắt đầu chuyền tay các bản sao của các cuộc thảo luận địa phương trong
suốt mạng lưới thông tin thư tín của các câu lạc bộ tỉnh, mang đến kết quả là các
tư tưởng và đề nghị được phổ biến nhanh chóng. Tại Bordeaux, Bergerac và
Bar-le-Duc, các truyền đơn và thỉnh cầu mới đã đến mỗi ngày từ các hội đoàn kết
nghĩa trên khắp vương quốc mà không đi qua Paris, những truyền đơn mà mỗi ngày
mỗi trở nên cấp tiến hơn.
Trong giai đoạn trầm
lắng của biến chuyển và sự không chắc chắn khi nhà vua dường như đã không nhìn
nhận Cách mạng và HĐCMQG cũng chưa chọn lựa vị trí nào, người dân khắp nơi bắt
đầu khái quát đánh giá lại những giả thuyết căn bản của Hiến Pháp mới. Không chỉ
ở tại các câu lạc bộ chính trị điạ phương, mà tại các hội đồng quản trị khác và
đủ loại các cuộc hội họp đột xuất cũng chuẩn bị đối diện cuộc khủng hoảng. Người ta tự hỏi lòng, tranh
cãi và rồi thông qua các chọn lựa có thể thực hiện được khi xem xét lại. Tại
Toulouse, mọi người cố gắng công khai tuyên bố ý kiến của họ về vị thế của nhà
vua, cho dù có phải liều lĩnh ra sao. Tại Tours, như một viên chức thị trấn diễn
tả, các cuộc tranh luận chẳng bao lâu chú trọng tới những câu hỏi đáng chú ý và
có tính thăm dò nhất mà chưa bao giờ được
thảo luận từ thuở ban đầu của vương triều. “Làm sao chúng tôi diễn tả được điều
đó, nỗi vui mừng mà chúng tôi cảm nhận ngay giữa thời kỳ căng thẳng và sợ hãi của
chúng tôi. Chúng tôi nhìn thấy đám trẻ tuổi nhút nhát lắp bắp nói lên ý tưởng của
chúng, những người trẻ tuổi bạo dạn hơn diễn tả nhiệt huyết và sự dũng cảm vể cảm giác của họ, những người trưởng thành
hơn đưa ra những lời khuyên bảo có suy tư và thận trọng hơn. Thật là một cảnh
tượng xúc động!
ý kiến lúc này
quay qua chống lại nhà vua mạnh mẽ. Trong suốt giai đoạn then chốt từ khoảng thời
gian cuối tháng Sáu khi tin tức về vụ bắt giữ tại Varennes vừa tới cho đến giữa tháng Bẩy khi HĐCMQG ban
hành các nghị quyết, chỉ chừng một phần sáu những lời chứng thực đến từ các tỉnh
thành có sự thông cảm cho một ông vua trốn
chạy. Ngay cả những người tỏ ra nhiệt tình với vua cũng liên kết nhận xét của họ
qua những lời bình luận nghiêm khắc với sự nối kết các hành động của nhà vua với
sự nhu nhược của ông tạo nên sự chấp nhận những lời cố vấn xấu xa. Một thành viên
hội đồng thị xã viết: “Nhà vua thật là nhu nhược, yếu đuối, bị lừa gạt và bị lợi
dụng.” Một người khác viết: “Chúng tôi mong muốn có thể tin rằng do mềm yếu và
sự mù quáng tiếp nhận đám quan lại trong triều đáng phỉ nhổ mà Louis XVI đã bị dẫn dắt tới việc trốn chạy khỏi vị thế
và bỏ rơi một dân tộc đã cho ông tràn đầy tình yêu mến. Đó không phải là ý nguyện
ban đầu của nhà vua mà chỉ để làm hài lòng những ước mơ và những tham vọng không
kiềm chế của của những kẻ bu quanh ông. Bởi vì cái giả thuyết này mà chúng tôi
sẽ tạm giữ im lặng và chưa vội phán xét nhà vua.”
Ngược lại, gần
ba phần năm số lượng thư tín đã trở nên rõ ràng tiêu cực với sự đánh giá nhà
vua của họ. Với những lời lẽ biện luận đánh động sự giận dữ và đắng cay, các
ban quản trị hành chánh, thành viên các câu lạc bộ và các đơn vị vệ binh quốc
gia ở khắp mọi ngõ ngách đòi tra cứu về mọi khía cạnh tội lỗi của vua. Louis
XVI bị tố cáo đã đào tẩu khỏi hoàng cung mà không hề nghĩ đến những hậu quả của
hành động này đối với thần dân. Một người mà họ đã từng coi là người ủng hộ họ
mạnh mẽ nhất đã từ bỏ vị trí của ông ta một cách hèn nhát và phản bội lại chính
lời thề của ông. Việc từ bỏ một ngai vàng
danh giá nhất trên thế giới của ông đã làm nước Pháp trở nên một ngôi mộ to lớn.”
Mặc cho những lời phủ nhận của Louis, hầu hết các thư tín có rất ít nghi ngờ về
ý định thực sự của nhà vua chính là sự trốn khỏi nước Pháp để tìm kiếm sự trợ
giúp của quân nước ngoài chống lại đất nước mình. “Vị tư lệnh tối cao của đất
nước lại có kế hoạch bỏ đi tỵ nạn tại nước ngoài nơi hứa hẹn cho ông tiền bạc,
trợ giúp và binh lính để chiếm lại những quyền lực tưởng tượng mà ông tuyên bố
là thuộc về của ông.” “Ông ta tìm kiếm trong vô vọng việc xử dụng lưỡi gươm ngoại
quốc lên đầu chúng ta. Những hành động như vậy chỉ có thể dẫn tới chiến tranh và
chỉ có thể liệt vào hạng phản quốc.” “Nhà vua đã từ bỏ ngai vàng để qua lãnh địa
ngoại quốc và biến đổi những cánh đồng phì nhiêu của chúng ta thành biển máu. Ông
ta có lẽ đã giao phó đất nước cho sự tương tàn của nội chiến và ngoại chiến.” Ngay cho dù ông chỉ nghe theo lời cố vấn của
bọn xấu xa khác, trách nhiệm của ông ta cũng không nhẹ hơn với tội hoàn toàn phản
bội lại đất nước. Chỉ có một điều quá rõ ràng là mục đích tối hậu của ông là
quay trở lại làm người đứng đầu quân đội và để áp đặt lại hệ thống chế độ cũ
trước đây mà thôi. Được hấp thụ một nền giáo dục với những nguyên tắc độc tài
toàn trị, Louis XVI sẽ mãi mãi là kẻ thù của tự do.”
Không gì làm các
nhà ái quốc tỉnh thành giận dữ hơn là lời tuyên bố nổi tiếng của nhà vua khẳng định
tới toàn thế giới rằng những lời thề trước đây của ông trước Hiến Pháp là không
thành thật. Theo đặc tính của Cách Mạng, thấm nhuần với những lý tưởng minh bạch
và xác thực, có lẽ không tội lỗi nào lớn lao hơn việc phản bội lời thề, một việc
mà chính vua Louis tự thú nhận đã làm. Họ lập đi lập lại rằng ông là một người man trá, một kẻ bất
trung, một tên bội thề. “Chúng ta ghê sợ bất cứ người dân Pháp nào lừa gạt đến
mức phản bội lại lời thề hứa của mình vì đó là vi phạm các nguyên tắc thiêng liêng
nhất. Ông ta quá hèn nhát, không đáng tin cậy, không ngay thẳng và bất trung, kẻ
phản lại lời thề hứa, sự giả bộ đức độ của ông hoá ra chỉ là cái đạo đức giả dối
nhất. Nhiều nhóm người đã trực tiếp so sánh lời thề giả dối của nhà vua với những
lời thề hứa của họ trước đây, bảo đảm với HĐCMQG rằng, không như nhà vua, họ sẽ mãi mãi gìn gữ lời thề của họ,
Đối với đám Jacobins tại Nantes, Louis đã tự bao phủ mình trong cái ti tiện mãi
mãi. Họ không còn liên hệ so sánh ông với vị vua Henry vĩ đại nữa, mà với
Charles IX, một ông vua Pháp bội tín, người đã mời các nhà lãnh đạo giáo phái
Tin Lành tới một đám cưới tại ngày lễ Saint-Bartholomew năm 1572 chỉ để tàn sát
họ.
Cùng với một đám
thiểu số các nhà ái quốc tỏ ra có chút cảm thông cho vua Louis và khối đại đa số
lên án ông dữ dội, một thành phần thứ tư không hề liên hệ đến nhà vua trong thư
tín của họ, một sự không đếm xỉa gì đến sự hiện hữu của nhà vua mà tự nó đã là
một sự ngầm kết tội chưa hề có tiền lệ. Hầu hết những người trả lời như vậy cho
biết rõ rằng, bây giờ họ chuyển lòng trung thành của họ cho HĐCMQG. Nhóm
Jacobin Saint-Lô tại Normandy đã diễn tả cái diễn tiến tâm lý này là cái mà họ đã
trải qua vào cuối tháng Sáu sau khi họ
được biết về những biến cố trước đó. “Lúc đầu, chúng tôi sững sờ đến chẳng
biết nói gì để diễn tả cảm xúc, vì một câu nói đã phá hủy mọi niềm hy vọng của
chúng tôi: ‘Nhà vua đã bỏ rơi chúng ta!’ Chúng tôi do dự. Chúng tôi cố tìm hiểu
điều đó có nghĩa gì? Như vậy những lời hứa hẹn của nhà vua là tào lao sao? Những
lời thề thốt của ông chỉ là mhững lời lẽ vô giá trị sao? Nhưng rồi chúng tôi nhận
ra rằng quý vị đại biểu đã lãnh trách nhiệm. Tiếng nói của tổ quốc vẫn còn được
nghe thấy. Và chúng tôi lập lại lời thề trang nghiêm chấp nhận những nghị quyết
mới. Vận mệnh cùa những quốc gia tự do không còn bị ảnh hưởng bởi những hành động
của các vị vua.” Đã đến lúc chính các vị
đại biểu được coi như những người cha của đất nước, cha của dân tộc, những người
lấy lại tự do, những biểu tượng về tình cha con đã từng được dành riêng cho nhà
vua. Các bức thư chứa đầy những sự so sánh các đại biểu với những khuôn mẫu anh
hùng của Hy Lạp và La Mã cổ xưa: họ là những Lycurgus mới mang luật lệ đến cho
nhân dân; họ là những nghị sĩ La Mã chiến đấu chống lại Nero và Catiline bạo chúa.
Những người khác lại dùng những liên hệ tôn giáo trong sự khen ngợi HĐCMQG: Công
việc của các vị có bàn tay của Đấng Toàn Năng nâng đỡ. Ngay cả trong giờ lâm tử,
họ cũng hướng đầu quay về Paris và loan
báo những lời lẽ vì Thiên Chúa và HĐCMQG Họ tuyên bố: “Trong những hoàn cảnh hiện
tại, chúng tôi sẽ đi theo các vị cha già dân tộc với bất cứ quyết định nào của các vị, ngay cả
việc nhà vua bị xét xử hay truất phế. Chúng tôi sẽ giữ nguyên niềm tin tưởng đối
với đất nước, luật pháp và giới chức hành pháp; tuy nhiên các vị nên chọn nắm lấy
thẩm quyền hành pháp đó. Chúng tôi để cho qúy vị toàn quyền hành động và phán đoán
nên trừng phạt hay ân xá cho các tội lỗi của vua Louis XVI.”
Nhiều lời lẽ tuyên
bố vô cùng mủi lòng diễn tả một sự vỡ mộng sâu đậm về nhà vua. Nhóm Jacobins ở
làng La Bassée ở phía Bắc nước Pháp viết rằng cho tới ngày 21 tháng Sáu, họ vẫn
coi vua Louis XVI vừa là một nhân vật lớn và một vị vua vĩ đại nhất trong các
vua trị vì. Ông dường như khác xa biết bao so với 65 vị vua tiền nhiệm. Nhưng
chỉ trong một ngày, qua một hành động đơn lẻ, vị vua này hoàn toàn mất hết mọi
danh tiếng. Cái tính trầm lặng nổi bật của Louis, một thời được giải thích là cái
trầm lặng của sự khôn ngoan và cẩn trọng, giờ bị coi là ngu ngốc hay phản bội.
Ngay cả những danh xưng được dùng cho biểu tượng nhà vua cũng bị thay thế đáng
buồn từ những danh từ : “hoàng thượng, Bệ Hạ hay đức vua” trở thành cách gọi tên
cộc lốc “Louis hay Louis de Bourbon”, chứng tỏ một sự kiện là nhà vua không còn
được coi như hiện thân của một ngôi vàng vĩnh cửu, mà giờ chỉ là một cá nhân đầy
lỗi lầm nếu không phải là hư hỏng đồi bại. Trong sự chối bỏ lời hứa và vi phạm
lời tuyên thệ trang nghiêm, Louis đã từ bỏ cái lý công chính của người dân đại
lượng và nhạy cảm, những người đã luôn luôn tôn thờ các vị vua của họ như thần
tượng, yêu mến vua mặc cho các tật xấu của các ngài. Quả thật, hình ảnh thần tượng,
trước đây vua là thần tượng của người dân Pháp, giờ thần tượng đã bị đập tan và
phá hủy mãi mãi trong lời biện giải của các văn bản thư tín vùng tỉnh.
Một ít người viết
thư còn bắt đầu viết lại lịch sử của Cách Mạng và vị thế của nhà vua trong
trang lịch sử đó. Những người đứng đầu một thị xã nhỏ bé ở miền Trung nước Pháp
đã tự hỏi rằng Louis có thể bị thay thế không với nguyên tắc độc tài chuyên chế?
Và họ đã viết một bài dài diễn giải về 2 năm kể từ 1789 mà trong đó nhà vua được
hình dung như đang cố tạo nên một thành
lũy của chính sách độc đoán ngay trong lòng của
chính HĐCMQG. Chính vua là người đã dùng vũ lực ép buộc các đại biểu phải
lánh nạn trên sân Tennis. Có thể ngày hôm nay, Paris đã là một nghĩa trang lớn,
nếu không có các hành động can đảm của cư dân, những người phá ngục Bastille. Đối
với nhóm Jacobins ở Versaille, lúc này dường như ông vua lường gạt phải chịu trách
nhiệm về tất cả những khó khăn làm nước Pháp đau khổ trong 2 năm qua, ngay khi ông
chuẩn bị cuộc tàn sát dân tộc ghê rợn, một dân tộc đã luôn luôn bao phủ ông với lòng tử tế. Người dân thành
Alès phía Nam nước Pháp nhắc lại: “Mới đây thôi, chúng tôi thành lập một ban hợp
ca hát bài ca ngợi nhà vua. Vì quá tin tưởng, chúng tôi coi ông là người hoàn
trả lại quyền lợi cho chúng tôi. Nhưng thay vì là người cha của chúng tôi, ông
muốn là một bạo chúa, mà chúng tôi có thể gọi là tên đao phủ. Vâng thưa quý vị!
Trái tim chúng tôi vỡ nát và mắt chúng tôi chứa đầy máu lệ.
Quân chủ hay cộng
hoà?
Hầu hết những nhóm gửi lời khai chứng thực vào cuối
tháng Sáu đầu tháng Bẩy đã không có một tư thế trực tiếp về việc nên làm gì với
nhà vua đều hứa tuân thủ theo quyết định của HĐCMQG, cho dù đó là quyết định như
thế nào. Nhưng có một phần tư trong số các
thư tín còn đi xa hơn. Họ cảm thấy bị phản bội nặng nề. Họ coi hành vi của
Louis thật đáng khiển trách đến nỗi họ không bao giờ còn có thể tín nhiệm ông sẽ
có trách nhiệm nào nữa trong chính quyền, và họ thúc giục HĐCMQG ra tay chống lại
nhà vua. Vào khoảng một nửa nhóm này dường như đã sửa soạn để duy trì Hiến Pháp
hiện tại. mặc dù họ khuyến khích Hội Đồng truất phế nhà vua khỏi ngai hay đưa ông
ra xét xử trước tổ quốc. Các người lãnh đạo thị trấn Montauban thấy đau lòng vô
cùng với những bước đi mà họ sẽ phải làm. Họ vẫn yêu thích chế độ quân chủ lập
hiến, nhưng họ nói nước Pháp có thể làm gì khi phải đối diện với một người từ
chối không muốn thi hành luật pháp? Một ông vua trốn chui trốn nhủi từ bỏ cái vị
trí cao cả của mình do Hiến Pháp đặt ông ta lên, người vi phạm những nghị quyết
mà ông đã chấp nhận, người giẫm đạt dưới chân những lời tuyên thệ thiêng liêng
nhất của mình, người cho thần dân một gương xấu về sự lừa gạt. Một người như vậy
là một hình tượng thật đáng buồn trước mắt chúng tôi.” Cuối cùng, họ trông cậy
vào một lý thuyết cam kết về vương quyền để minh chứng cho việc tạm ngưng quyền
xá miễn không thể bị truy tố: “Một vị
vua vi phạm hiến pháp là đã phá hủy giao
ước xã hội mà trong đó quyền cai trị của vua đã được ghi chép.” Nhóm Jacobins tại
Limoges quay lại với một lý luận về cảm xúc trực tiếp hơn: “Louis XVI không thể
được tiếp tục ngồi trên ngai nữa vì hình ảnh ông ta không còn ngự trị trong trái
tim của nhân dân, những người khinh bỉ ông.” Tại Nantes, một bộ phận chính quyền
đề nghị một phiên bản Pháp về cuộc Cách Mạng Vinh Quang năm 1688 khi quốc hội
Anh Quốc truất phế vua James II và thay thế ông bằng William và Mary. Họ viết:
“Người dân Anh đã dạy chúng ta rằng truất phế một ông vua bất tín với luật pháp
của đất nước mình thì không phải là lật đổ chế độ quân chủ.”
Tuy nhiên, tất cả những đề nghị như vậy phơi bày ra một
loạt các khó khăn. Có thể nào HĐCMQG tự mình tuyên bố truất phế Louis như kiểu các
công dân thành Nantes ủng hộ, hay là trước hết, phải chính thức xét xử nhà vua trước một phiên toà tối cao mới
vừa được thành lập tại Orléans? Chuyện gì sẽ xảy ra giả như phiên toà phán quyết
nhà vua vô tội? Và nếu nhà vua bị truất phế, ai sẽ là người thay thế vị trí đó?
Người nối nghiệp hợp pháp của Louis XVI. thế tử Louis-Charles chỉ mới có 5 tuổi,
và như vậy vấn đề lựa chọn một nhiếp chính đáng tín nhiệm dường như đáng lo sợ.
Người hầu như chắc chắn sẽ là nhiếp chính có lẽ là quận công d’Orléans, một người
bà con của vua ủng hộ Cách Mạng. Nhưng nhiều nhà ái quốc cũng không tin tưởng viên quận công giống như họ bất tín nhiệm Louis. Có lẽ khi đối diện với những khó khăn như thế,
việc sửa chữa Hiến Pháp được ưa thích hơn. Lại có một nhóm nhỏ thư tín có đủ loại
đề xuất khác nhau để giới hạn mạnh mẽ quyền lực của vua, để ông trở thành một bóng
ma quyền lực của chính ông, như các viên chức tại Brest đề nghị. Ban lãnh đạo
thành phố Lyon viết: “Người ta sẽ không bao giờ thấy Louis lấy lại niềm tự tin
mà ông ta đánh mất. Nếu chúng ta cần có một nhà vua nối nghiệp ngồi ngủ trên
ngai, nhà vua như thế không bao giờ có thể có nhiều quyền hành để ông ta lạm dụng.”
Một số đề nghị chấm dứt quyền phủ quyết lập pháp của nhà vua, một quyền hạn mà
họ không thể nào tin là có thể đặt trong tay một ông vua hèn nhát và lừa gạt.” Những người khác bình luận rằng nên đưa quyền
lực thực sự vào tay một nội các với các bộ trưởng được chọn bởi cơ quan lập pháp
hoặc ngay chính người dân, đưa nước Pháp tiến gần hơn với hệ thống quốc hội Anh
Quốc. Nhóm Jacobins tại Dijon viết: “Nếu
chế độ quân chủ cần được duy trì, nước Pháp phải kiềm chế quyền hạn của nó để mọi
người dân sẽ luôn luôn được bảo vệ khỏi sự đe doạ của chế độ độc tài.”
Nhưng thực ra nước Pháp có nên bảo tồn chế độ quân chủ?
Rõ ràng một số phe nhóm trong cả nước, chẳng hạn như câu lạc bộ Dole đã nghiêm
túc cứu xét bước kế tiếp trong một chuỗi lý luận để cắt bỏ cái nút thắt Gordian
và hoàn toàn xoá bỏ chế độ quân chủ. Trong cái bối cảnh của Âu Châu thế kỷ 18, đây
là một đề xuất đáng kinh ngạc, tạt vào mặt tất cả các tư tưởng đương thời, các
trí tuệ chung như là một sự nguy hiểm và một chế độ cộng hòa thì không thể thực
hiện trong một lãnh thổ rộng lớn và đông dân như Pháp. Chỉ có một số rất nhỏ
nhoi các phe nhóm đã sẵn sàng nắm lấy một vị trí tập thể như vậy. Những người đó
đã tự chứng minh trong những thời kỳ hùng biện với những lời tố cáo chống lại
Louis XVI cùng toàn thể chế độ cũ thường tìm kiếm cảm hứng từ những nhân vật
anh hùng cổ điển của nền cộng hoà La Mã. Dường như không ai nói đến nền cộng hòa
Mỹ gần gũi nhất, một nền cộng hòa bị coi là quá thô thiển và dân cư ít ỏi so sánh
với nước Pháp.
Vệ binh quốc gia tại một thị trấn nhỏ Saint-Claud ở
miền Đông Nam nước Pháp đã nổi trận lôi đình chống lại ông vua man rợ của họ, một
ông vua đã bán đi sự tín nhiệm của ông, vinh quang của ông và tổ quốc của ông
cho bọn ngoại quốc trong khi ấp ủ trong lòng một kế hoạch kinh khủng trong việc
giám sát sự tàn sát người dân Pháp. Họ bèn kê khai ra: “12 thế kỷ chịu đựng tai
hoạ dưới quyền lực tuyệt đối của vua chúa đã hủy hoại trái đất,” trước khi họ thúc giục HĐCMQG lật đổ triều đại
Tarquins tân thời, (Tarquins là triều đại các vị vua La Mã cuối cùng) để thiết
lập một nền cộng hòa. Các thành viên câu lạc bộ ở thành phố Niort lân cận thì đã
nêu lên một lý thuyết giao ước. “Louis XVI đã vi phạm hiệp ước mà ông đã ký kết
với đất nước. Vì ông đã phản bội lời thề của ông, như vậy hiệp ước đã bị xé bỏ
và vì thế đất nước có toàn quyền kết thúc sự nghiệp chính trị của ông một cách không
thể tranh cãi.” Và rồi họ kết luận: “Nếu chúng ta phải chiến đấu với Tarquins,
đừng bao giờ quên rằng tất cả mọi người dân Pháp thực sự đã tuyên thệ với lời
thề của Brutus (Brutus là một thủ lãnh La Mã dẫn đầu sự lật đổ Tarquins).” Vệ
binh tại thành Arras thì cất cao giọng: “Hỡi công dân Pháp và đồng hương, giờ đây
định mệnh đang mở ra. Các biến cố lớn lao đã tiết lộ ra sự phản bội tày trời,
nhưng một tội ác xấu xa được bí mật âm mưu
vẫn có thể mang lại một may mắn không kỳ vọng trước. Chúng ta hãy quên đi là ta
có một ông vua. Hãy coi vua là chuyện thời quá khứ.”
Làm sao những nhà ái quốc ở một số thành phố tỉnh lỵ
nhỏ bé của Pháp lại có những thế đứng như vậy có vẻ không rõ ràng. Trong trường
hợp của Clermont-Ferrand, bà Marie-Jeanne Roland, một nhà ái quốc Paris có liên
hệ với cánh Cordeliers được biết là đã thường xuyên gửi lời cố vấn đến việc nuôi
dưỡng, ủng hộ một nền cộng hòa tới một trong các vị lãnh đạo yêu nước của họ.
Khó có thể tin rằng các đảng viên của tư tưởng cộng hòa tại Arras và Chartres
chịu ảnh hưởng dưới những lời hùng biện của Robespierre và Pétion, các đại biểu
cấp tiến của họ. Nhưng những người dân thị trấn khác dường như đã chấp nhận những
vị thế đó một cách độc lập trước khi các báo cáo và thỉnh nguyện thư từ Paris đến
tai họ. Và quả nhiên, chuyện gây cảm hứng đơn lẻ quan trọng nhất trong vùng quê làm sụp đổ triều
đại quân chủ không đến từ Paris mà từ Monpellier.
Nguồn gốc của tư tưởng cộng hòa trong cái thủ phủ tỉnh
lỵ cỏn con gần Điạ Trung Hải vẫn còn tồn tại bí mật. Trong những văn bản tấu trình
những bất công 1789 do nhiều nhà cấp tiến tương lai ký, dân thị trấn tự tiết lộ
rằng họ luôn nhiệt tình ủng hộ nhà vua. Động tác đầu tiên tẩy chay vương triều
xảy ra vào 27 tháng Sáu, một ngày sau khi thị trấn biết sự kiện bắt giữ nhà vua
tại Varennes và hầu như chắc chắn trước khi các bản thỉnh cầu thư về cộng hòa từ
Paris gửi đến. Bản đề nghị do Jacques Goguet, một y sĩ 24 tuổi chỉ vừa mới tốt
nghiệp tại trường y khoa Montpellier đem trình lên hiệp hội ái quốc địa phương. Bản đề nghị được
đại đa số các lãnh đạo thành phố chấp nhận rất nhiệt tình, không chỉ bởi câu lạc
bộ mà gồm cả ban quản trị thành phố, quận lỵ và của các ban ngành. Trong phiên
bản cuối cùng được chấp thuận ngày 29 tháng Sáu, thỉnh cầu thư gửi tới HĐCMQG được
thảo luận chặt chẽ và xúc tích. Các hội viên tranh luận: “Nhà vua hiện tại thật
hèn hạ, và chúng tôi quá khinh bỉ ông ta đến không còn ghét hay sợ ông nữa. Chúng
tôi để cho luật pháp toà án xử dụng lưỡi gươm trả thù. Vì vậy, chúng tôi chỉ yêu
cầu rằng người dân Pháp sẽ không còn một vị vua nào khác ngoài chính chúng tôi
làm chủ.” Lại một lần nữa, lời thỉnh cầu được biện minh bằng sự liên hệ tới thời
cổ đại: “Đối với chúng tôi để trở thành công dân La mã thực thụ, tất cả những gì
tồn tại là sự thù ghét và việc trục xuất
vua quan. Sự thù ghét thì đã là sự thật. Chúng tôi chờ hành động của các vị để
bảo đảm điều thứ hai (việc chấm dứt vương triều).” Rồi họ kết luận: “Ngày hôm
nay, mọi thành kiến đã bị phá hủy và người dân đã được khai sáng. Ý kiến quần
chúng cho phép các ngài, yêu cầu các ngài đưa chúng tôi ra khỏi tội ác của vua
chúa.
Thỉnh cầu thư không chỉ được gửi đến Paris nơi được đọc
trước mặt nhóm Jacobins vào ngày 6 tháng Bẩy, mà hàng tá các bản sao được truyền
tay trực tiếp qua mạng lưới quốc gia của các câu lạc bộ ái quốc. Bất cứ nơi nào
nhận được thì dường như nó là chủ đề của các tranh luận nghiêm trọng và nhiệt tình
nhất. Bordeaux có được nó rất sớm vào ngày 2 tháng Bẩy. Toulouse và
Aix-en-Provence đọc nó vào 2 ngày 4 và 5 tháng Bẩy. Tới 10 tháng Bẩy thì nó tới
Strasbourg, một vùng Đông Bắc xa xôi. Poitiers ở miền Tây nước Pháp bắt đầu
tranh luận về nó 2 ngày sau đó, trong khi Bar-le-Duc ở gần Varennes đọc nó vào
ngày 13 tháng Bẩy và Limoges ngày 15. Cuối cùng, được biết là chỉ có 5 câu lạc
bộ đã hoàn toàn thừa nhận bản thỉnh cầu trên. Nhiều nơi khác lúc đầu tham gia,
nhưng rồi họ xem xét lại và quyết định chờ đợi
quyết định của HĐCMQG hay lựa chọn cách phế bỏ vị vua hiện tại nhưng không
từ bỏ nền quân chủ. Nhưng ngay cả khi đa
số chối bỏ thỉnh cầu thư của Montpellier, một thiểu số vẫn mạnh mẽ thường xuyên
dấy lên việc ưa thích một nền cộng hòa. Trong cả hai nơi Poitiers và Bordeaux,
các đội ngũ theo cộng hòa tranh luận cho lập luận của họ hùng hồn, và những người
này có thể đã thắng nếu như cuộc tranh luận không bị chấm dứt vì có nghị quyết
của HĐCMQG tới miễn tội nhà vua.
Nhiệm vụ của chúng
ta là tuân thủ
Tin tức về quyết định của HĐCMQG và vụ việc bắn giết
tại Champ de Mars đã đột ngột kết thúc
giai đoạn căng thẳng tái thẩm định chính trị. Đối diện với cuộc khủng hoảng
mới này, các nhân sĩ địa phương xác định sự gắn bó của họ với những nghị quyết
tháng Bẩy hầu như không có bất cứ ngoại lệ nào. Không có bất cứ nơi nào bên ngoài
Paris mà các nghị quyết trở thành mục tiêu của các cuộc xuống đường hay các vụ
bạo động. Các vị đại biểu đã mở màn cho cuộc Cách Mạng và là người dẫn dắt đất
nước thành công qua nhiều khó khăn trở ngại trước đó, giờ tiếp tục chỉ đạo với
sự tôn trọng lớn lao và có uy tín dưới con mắt các người yêu nước vùng tỉnh
trong sự buồn rầu thất vọng của nhóm người Paris cấp tiến và câu lạc bộ
Cordeliers.
Tuy nhiên, một số đông công dân đã thật đau lòng với
các vấn đề bị đe doạ. Trong các bức thư gửi đến HĐCMQG, dân tỉnh lỵ cùng các
ban quản trị địa phương thường trích dẫn đến các bài diễn văn của cá nhân các đại
biểu, là những diễn văn đã được đọc, so sánh và cân nhắc cẩn thận. Robespierre,
Vadier, Salle, Duport và Barnave có trong danh sách của một thị trấn, chứng tỏ
rằng sự lựa chọn các diễn giả trích dẫn gồm cả hai phía của cuộc tranh luận đã
được cứu xét hợp lệ. Có vài nhóm đã rà soát lại từng bước một toàn thể diễn tiến
của lý luận, xem xét tất cả các cách giải quyết có thể xảy ra đối với cuộc khủng
hoảng, loại bỏ những phương án tỏ ra không thể thực hiện, và rồi họ trình lên
phản ánh của riêng họ cho Hội Đồng quyết định cuối cùng. Các cử tri đi bầu tại
một thị trấn nhỏ đã viết khi họ suy nghĩ về cái tình thế khó xử không lường trước
này: “Có quá nhiều phức tạp. Nhà vua dường như có tội. Tuy nhiên ông ta lại có
quyền miễn tội hợp pháp. Vậy làm sao ông
có thể bị tố cáo? Làm sao có thể phán xét ông?”
Việc chấp thuận quyết định của Hội Đồng lại không hề
đồng nghĩa với việc ủng hộ nhà vua. Các tỷ lệ thông cảm cho nhà vua tiếp tục tụt
dốc thê thảm, hạ xuống từ 31% từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng, còn 17% ở giai đoạn
lưng chừng, tới con số thảm hại 7% vào gần
cuối tháng Bẩy. Ở vào giai đoạn cuối cùng, hiếm thấy ai còn nhắc nhở đến câu nói
tha thứ cũ là “một vị vua tốt bị cố vấn tồi.’ Chỉ có một lá thư duy nhất thuộc một thị trấn nhỏ miền Trung nước Pháp có nhắc
nhở đến đặc tính thiêng liêng của vua. Để
chắc chắn hơn, chỉ một phần năm thư viết
từ giữa tháng Bẩy về sau công khai kết tội Louis, nhưng gần ba phần tư
không hề đá động gì tới vua cả. Nhiều nhà lãnh đạo tỉnh lỵ rõ ràng đã ưa thích
cách dùng tấm màn im lặng bao phủ lên màn
kịch đáng buồn của việc nhà vua chạy trốn hơn. Đối tượng chính yếu của đại đa số
người viết thư là để tái xác định sự trung thành của họ với HĐCMQG như giới chức thẩm quyền cao nhất trên đất nước và
đại diện tối cao của ý nguyện chung. Một lần nữa, các đại biểu được ca ngợi cao
ngất trời như các cha già dân tộc hay như các anh hùng theo kiểu mẫu anh hùng
La Mã xưa. Cho dù những quan điểm trước đây của các nhà ái quốc địa phương có là
gì chăng nữa, lúc này họ cảm thấy ràng buộc vào bổn phận phải đi chung với HĐCMQG.
Nhóm Jacobins ở một thị trấn miền Bắc Brittany viết: “Tuân thủ là bổn phận của một công dân tốt, và
giờ đây tất cả chúng ta hãy làm gương.” Hầu như đồng bào các nơi của họ đều đồng
ý: “Các ngài đã lên tiếng và một tiếng hô lớn đã vang lên trên khắp miền đất nước
: ‘Đó là luật pháp!’ Và tất cả chúng ta sẵn sàng chết cho luật pháp.” Ngay cả
khi trước đó họ đã tranh luận cho một biện pháp mạnh mẽ hơn chống lại nhà vua, ý
nguyện chung của cả nước giờ đã được Hội Đồng quyết định và cái trước đây là một
sai lầm, giờ có thể trở thành tội ác.
Khi đưa ra những bình luận về tình trạng chính trị và
quyết định của HĐCMQG, hầu hết các thư tín đã nói rất ít về tình yêu mến của họ
đối với nhà vua hay nền quân chủ hơn là nỗi lo sợ về một nền cộng hòa và về sự
phẫn nộ đối với các hành động nổi loạn của đám cộng hòa tại Paris. Họ quay đi
quay lại với những lập luận của chính HĐCMQG, nhiều người đổ lỗi cho một loạt các
triết gia từ Montesquieu tới Rousseau, rằng
một chế độ cộng hòa có lẽ không thực tế và không thể thực hiện tại Pháp. Một chính
quyền cộng hòa như thế có thể khả thi ở những bang tỉnh thành phố, đất nước nhỏ
bé như Thuỵ Sĩ hay Hy Lạp cổ xưa, nhưng với một quốc gia rộng lớn, điều đó sẽ dễ
dàng dẫn tới vô tổ chức và hỗn loạn. “Đất nước này quá to lớn để chuyển đổi
sang thể chế cộng hòa. Sớm hay muộn, các quyền lực lân bang sẽ xâu xé nó thành
nhiều mảnh. Những ai đề xuất một nền cộng hòa đã chưa từng cứu xét đến những bài
học kinh nghiệm, đến hợp lý của lịch sử, đến những hậu quả có thể xảy ra, đến
những dữ kiện về phong tục Pháp, dân số, địa lý và thái độ của dân.” “Chúng tôi
tin rằng trong một đất nước có cân nhắc
với một dân số lớn lao, chắc chắn phải có một trung tâm cho sự đoàn kết, một thẩm
quyền hành pháp tối cao độc nhất mà từ nơi đó, giống như sức đẩy
Archimedes, với đòn bẩy của vương quyền,
tất cả mọi thành phần giai cấp bao la của
đất nước có thể tiến lên.
Nhiều người dân Pháp dường như rất sợ hãi cảnh nội loạn có thể sẽ nổi lên trong nước nếu HĐCMQG can
thiệp làm xáo trộn chế độ quân chủ. Hầu hết các phong trào chống đối tại Paris đã
nhận được một sự đón nhận rất tiêu cực tại các tỉnh lỵ. Đã có rất nhiều sự tham
khảo về sự dấy loạn của đám người tại Paris, những sự kiện mà dường như chỉ để
chứng tỏ rõ ràng về những mối nguy hiểm khi đặt quyền lực vào trong tay của người
dân trong sự vắng bóng một giới chức thẩm quyền trung ương độc nhất. Lời thỉnh
cầu của người dân Paris làm chúng tôi run lên vì tức giận: “Lòng chúng tôi tràn
đầy lo lắng. Chúng tôi e ngại rằng dưới sức ép của cái đám đông lầm lạc tự cho
mình là tiếng nói của quốc gia một cách sai trái này, các ngài sẽ bị buộc phải
hy sinh các nguyên tắc của các ngài.” Có những lời lẽ kết tội bất tận về cái địa
ngục và là tai hoạ đáng ghê sợ của tình
trạng vô chính phủ, về sự giận dữ của thường dân mất phương hướng. Nhiều tỉnh lỵ
đã chia xẻ quan điểm tình nghi của các đại biểu rằng sự phản đối tại thủ đô là
do bọn phản Cách Mạng hay thế lực nước ngoài kích động với âm mưu loại bỏ Hiến
Pháp. “Ẩn núp bên trong mặt nạ yêu nước, bọn âm mưu như vậy nhằm mục đích gây sự
chia rẽ bất hoà trong chúng ta. Chiêu bài vô chính phủ đã được cổ động bởi bọn
quái vật, bọn phản quốc, bọn giáo sĩ ngoan cố, những kẻ thù của đất nước tự khoác
cho mình chiếc áo choàng yêu nước chỉ để nhắm lật đổ Hiến Pháp và đưa đẩy đất
nước vào tranh giành hỗn loạn.”
Một thiểu số chừng một phần tám các phe nhóm tỉnh lỵ
gửi đi những bức thư đề nghị rằng họ không hoàn toàn đồng ý với quyết định của
Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia mặc dù cuối cùng họ cũng được thuyết phục chấp nhận.
Trong vài trường hợp, người dân địa phương lúc đầu chống đối các nghị quyết đó
và chỉ chấp thuận sau khi đã nghiên cứu cẩn thận các tranh luận. Một số viên chức
thành thật viết: “Nếu chúng tôi nghe theo ý chúng tôi thì một quyết định có hành
động đối với nhà vua có lẽ sáng tỏ hơn. Nhưng các nhà lập pháp bị buộc phải chống
lại cảm tính mà người thường dễ dàng bị khuất phục.” Cuối cùng, Hội Đồng đã làm
họ tin rằng một thể chế quân chủ lập hiến là hệ thống duy nhất có khả năng giữ
lại nămg lực và tính đoàn kết cần thiết cho sự ổn định của một quốc gia rộng lớn
và cung cấp được một bức tường không thể vượt qua chống lại ảnh hưởng của các
phe phái. Một nhóm công dân khác đồng ý:
“Sau khi nhà vua đáp lại tình yên thương và sự tin trưởng của chúng ta bằng sự vi phạm vào những cam kết thiêng liêng
nhất của ông, tất cả chúng tôi hy vọng toà án đất nước sẽ cai trị chống lại tội
ác. Nhưng HĐCMQG đã đi quá khỏi sự cứu xét và những nhiệt tình của thời điểm của
biến cố và đã đưa ra được một văn bản mới trên nền tảng luật pháp quốc gia qua
nghị quyết ngày 15 tháng Bẩy.” Lãnh đạo của một làng nhỏ tại Bordeaux thẳng thừng
hơn: “Lúc đầu chúng tôi không chấp nhận nghị quyết của các vị vì coi nó xung đột
với các nguyên tắc chung. Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, chúng tôi thà chịu đựng một
ông vua bất tài và lừa gạt còn hơn bị buộc phải đối mặt với sự kinh khủng của nội
chiến ngoại chiến.”
Những người khác tuyên bố gắn bó với luật pháp ngay
trong lúc vẫn nhấn mạnh sự hoài nghi sâu sắc của họ liên quan tới quyết định của
HĐCMQG. Theo quan điểm các viên chức ở hải cảng Brest trong vùng Breton, đất nước
giờ có lẽ được đặt trong tay của một người mà qua sự chạy trốn và bản tuyên bố
của ông đã tự tố giác ông là kẻ thù lớn nhất của chúng ta. Một thị trấn khác
trong vùng Brittany đồng ý chấp nhận Louis là vua của họ chỉ vì: “Chúng tôi được
lệnh phải chấp nhận theo luật mà thôi.”
Còn các vị lãnh đạo tại Montpellier, những người mạnh mẽ thúc đẩy cho một
nền cộng hòa đã chấp nhận nghị quyết với
sự mỉa mai: “Ở trong xã hội, người ta chỉ có thể lựa chọn giữa các loại xiềng xích
khác nhau mà thôi.” Trong tình thế hiện tại, họ chẳng có lựa chọn nào khác ngoài
việc đặt mình bên dưới sự trói buộc đầy vinh dự và hữu ích của luật pháp. Một vài
phe nhóm tỏ rõ rằng sự chấp nhận của họ đối với nghị quyết của Hội Đồng có tính
đột xuất và có điều kiện tùy theo hành vi tốt xấu của nhà vua. Họ sẽ chỉ chấp
nhận khi nhà vua tiếp tục xử dụng uy quyền của mình để duy trì Hiến Pháp. Họ chỉ
chấp nhận khi ông ta công nhận rằng làm vua là để phục vụ nhân dân chứ không phải
ngược lại.” Có một số rất nhỏ chỉ trích Hội Đồng thậm tệ. Nhóm Jacobins tại Périgeux thì không chắc rằng
những nghị quyết trước đây có phù hợp với tiếng nói của lương tâm và ý nguyện
chung của dân tộc không. Họ cảnh báo các đại biểu đừng bao giờ quên rằng: “các
vị chỉ là một bộ phận của ý dân.” Nếu họ muốn được tuân thủ trong tương lai, họ
không được bỏ qua sự quan trọng của việc duy trì niềm tin tưởng chung của nhân
dân. Quả thực, trên dưới một tá các phe nhóm những người đáp trả chỉ đồng ý chấp
nhận nghị quyết nếu Hội Đồng thấy ngay sự thay thế chính Hội Đồng. Đây là thời
cao điểm mà các đại biểu nên giã từ trở về nhà và để những người khác thay thế.
Ngược lại, như một thị trấn cảnh báo thẳng thừng: “Sư kiên quyết của các ngài sẽ
bị coi là ngoan cố.”
Sự chạy trốn của Louis XVI tới Varennes đã làmrung động
xã hội vùng miền nước Pháp tới tận gốc rễ. Vào cuối thời kỳ hoang mang lưng chừng
và sau những cuộc tranh luận căng thẳng, các ý kiến từ từ biến thành chống đối
mạnh mẽ sự cai trị của nhà vua. Những diễn văn mà ít nhất cũng hiểm độc như những
diễn văn phát xuất từ Paris đã lan tỏa khắp nước. Mặc dù chỉ một thiểu số nhỏ thị trấn đã có vị
thế tập thể đồng ý truất phế nhà vua và tạo dựng nền cộng hòa, các cá nhân đã
chuyển biến qua vị thế đó đã xuất hiện và đã đẩy mạnh quan điểm của họ tới hầu
như mọi vùng miền đất nước. Khắp nơi, người ta tranh cãi về tư tưởng và cứu xét
tới khả năng của một sự thay đổi cả nền tảng của chính quyền, ngay cả khi một sự
thay đổi như vậy đã bị đa số từ chối. Phần lớn các phe nhóm gửi văn bản chấp nhận
đã công khai hay ngầm bày tỏ rằng họ được chuẩn bị để tuân thủ quyết định của Hội
Đồng, ngay cả khi quyết định đó liên quan tới việc chiếm quyền lực vĩnh viễn bởi
chính Hội Đồng. Quả thực không hề có một
bức thư đơn lẻ nào lên án việc tạm ngưng quyền hạn của nhà vua vào ngày 21 tháng
Sáu. Mười bốn tháng sau, khi một tân Hội
nghị Quốc Gia tạo nên nền cộng hòa, đa số
người dân Pháp cả ở tỉnh lỵ lẫn Paris có lẽ đã suy nghĩ lại về khả năng có thể
sống trong một nước Pháp không cần có nhà vua hiện tại, hay có lẽ bất cứ ông
vua nào nữa.
Khi nhà vua chạy trốn - Chương 8
Chương 8: Những năm tháng sau đó
Khi người dân Pháp nam nữ tại các tỉnh lỵ chấm dứt tranh luận về số phận
của nhà vua, một làn sóng đàn áp đã nhấn chìm cả thành phố Paris. Trong hơn một
tuần lễ sau vụ bắn giết tại Champ de Mars, lá cờ đỏ thiết quân luật tiếp tục
tung bay trên nóc hội trường thành phố. Các nhà ái quốc trung hòa làm chủ Hội Đồng
Cách Mạng Quốc Gia (HĐCMQG) theo đuổi chính sách tấn công của họ chống lại tất
cả những người chủ trương cộng hòa, gọi họ là bọn gây rối. Để làm mạnh thêm sự
trấn áp, các đại biểu gấp rút soạn thảo một nghị quyết mới chống gây rối. Các hình phạt nghiêm khắc được áp đặt lên bất
cứ ai bị cho là đã kích động bạo lực bằng lời nói hay bằng văn bản của họ. Luật
còn được soạn thảo để có hiệu quả hồi tố, nhắm mục đích vào những hành động đã
xảy ra vào thời điểm trước và trong cuộc xuống đường ngày 17 tháng Bẩy. Oái ăm
là chỉ mới ba ngày trước, nhiều nhà lập
pháp đã tranh luận về sự bất hợp pháp của những sự trừng phạt có tính hồi tố này
khi nó được đề xuất để chống lại các hành động của nhà vua.
Mặc dù các cuộc điều tra đều do các toà án thị xã và cảnh sát Paris chính
thức trực tiếp điều khiển, chúng lại được giám sát bởi ủy ban Nghiên Cứu và Báo
Cáo của HĐCMQG. Trong vòng vài ngày sau biến cố Champ de Mars, hơn 200 người đã
bị bắt giam vì tội ném đá hay la hét những lời lẽ chống lại vệ binh hay đủ thứ
tội lỗi khác. Chính quyền cũng theo dõi các tay lãnh đạo cộng hòa, những người
phát ngôn chính thức của các hiệp hội thân hữu và các nhà xuất bản báo chí cấp
tiến, những người như Marat, Danton, Desmoulins, Kéralio và Robert.
Và cũng giống như nhiều viên chức tỉnh lỵ đối diện với cuộc khủng hoảng
nhà vua trốn chạy, HĐCMQG và các nhà lãnh đạo Paris đã không chần chừ trong việc
kiềm chế các luật lệ chỉ vừa mới ban hành trước đó. Họ ra lệnh cho vệ binh và cảnh
sát đóng cửa các cơ sở xuất bản và các câu lạc bộ chính trị, lần đầu tiên áp đặt
một chế độ kiểm diuyệt báo chí gắt gao kể từ khi chấm dứt thể chế quân chủ tuyệt
đối. Họ cũng cho tái hoạt động một hệ thống thông tin mật vụ đã từng bỏ đi một
phần lớn từ khi còn chế độ cũ. Nhân viên được phái đi nghe lén đàm thoại riêng
tư trong các quán rượu hay ở mọi ngõ ngách trong thành phố, lắng nghe mọi cuộc
tấn công vào chính phủ có thể xảy ra. Giả vờ làm một cuộc điều tra dân số trong
cả thành phố, họ gửi người tới các nơi cư ngụ khắp thành phố Paris để tìm kiếm
các cá nhân hoặc các văn kiện tình nghi. Việc bắt giam và truy tố kéo dài liên
tục qua tháng Tám. Nhiều người phàn nàn đã bị giam giữ nhiều tuần lễ trong các
nhà tù chật hẹp mà chẳng thấy một quan tòa nào, cũng không được cho biết lý do
vì sao bị bắt. Cochon de l’Apparent, một
trong những viên trưởng phòng cũ Uỷ Ban Điều Tra đã thành thực cho biết lý do của
những hành động trên. Ông ta phát biểu theo giọng điệu của Charles Lameth: “Trong
những giây phút lạ thường của cuộc khủng hoảng này, khi sự tồn tại của đất nước
trong cơn nguy biến là cấp thiết, việc bắt giữ bất hợp pháp là có thể chấp nhận
được.”
Việc trấn áp xem ra được bảo đảm hơn với các kế hoạch bí mật lan rộng,
giờ bị coi là tổ chức để chống lại Cách Mạng. Điều đó đơn giản không thể xảy ra
hay các đại biểu trung hòa đã cố tự thuyết phục rằng những người đưa thỉnh nguyện
thư trong vụ Champ de Mars đã hành động theo ý riêng của họ chống lại các quyết
nghị của Hội Đồng Quốc Gia Tối Cao. Họ chắc chắn đã được hối lộ hay bị hướng dẫn
sai lạc bởi những ngưởi bên ngoài. Mặc dù
các đại biểu cũng đã từng làm những tố cáo tương tự từ khởi đầu của cuộc Cách Mạng,
hầu hết đã cố chống cự lại một sự giải thích về các biến cố có âm mưu. Vào cuối
năm 1790, đại biểu Gaultier đã phản ánh những tiên đoán trước đây về các cuộc nổi
loạn khi chúng chưa thành hiện thực. Ông viết: “Tôi đã chưa bao giờ đặt sự tín
nhiệm vào chúng và quý vị đã thấy là những sự tin tưởng như vậy hoàn toàn không
bằng chứng. Không gì có thể gây nên sợ hãi trong số người thường dân hơn là những
tuyên bố sai lạc về các âm mưu.” Nhưng bây giờ hầu hết mọi người xem ra rơi vào
một trạng thái hoang tưởng. Không chỉ trên
ngôn từ diễn văn mà còn qua thư từ cho bạn bè và cử trị ở quê nhà, họ nói về những
âm mưu phản cách mạng xảo trá và tiền bạc do lực lượng ngoại bang cung cấp.
“Paris đã bị chi phối bởi một lũ gián điệp nước ngoài. Vàng của bọn Phổ và bọn
Anh quốc đã đang lưu hành rộng rãi khắp thủ đô để làm suy sụp một số thường dân
chưa được khai sáng.” Vài đại biểu trung hòa còn tự trấn tĩnh mình rằng những đối
thủ cấp tiến của họ trong Hội Đồng Quốc Gia như Robespierre, Pétion và nhiều
người khác đang được đám gián điệp như vậy chi trả.
Mặc dù bọn gián điệp chắc chắn có mặt tại Paris, chẳng có chứng cớ đáng
tin cậy nào được thấy có sự kết nối của gián điệp nước ngoài với việc cổ võ cho
chế độ cộng hòa vào mùa hè 1791. Một điều không thể né tránh là hầu như toàn thể
cư dân Paris đã mạnh mẽ chống đối cả các hành động cũng như cách diễn dịch của HĐCMQG.
Marie-Jean ne Roland cùng với chồng, hai người đã bí mật che giấu cho Kéralio và
Robert khỏi bị cảnh sát bắt, đã đắng cay giận dữ với những sự việc xảy ra. Bà
viết: “Tất cả mọi kỹ thuật trong hệ thống
tra tấn được huy động để truy khảo các người yêu nước để bôi đen danh tiếng của họ, nào là một lũ lầm đường lạc
lối, bọn kích động bạo lực với đủ mọi loại thành kiến cùng những chứng cớ giả mạo.
Ông bạn người Mỹ William Short cũng vô cùng sửng sốt. Ông viết cho Jefferson:
“Những nguyên tắc thật sự của tự do đã bị công khai vi phạm mỗi ngày dưới cái lý
cớ được biết từ lâu là vì lợi ích quần chúng.
Không hề có một hành động nào về sự hiện hữu của cái quy định thời hạn
được tạm giữ hay là vô cùng khó khăn để giúp đỡ người vô tội ra khỏi nhà tù.” Đối
lại, những người chủ trương chế độ cộng hòa lại tin rằng các đối thủ của họ
trong HĐCMQG bị kiềm chế bởi đám quý tộc và các chính phủ nước ngoài.
Toàn thể các khu ngoại ô Paris giờ bị phân tán vì sự việc, chia ra giữa
những người ủng hộ với những người xuống đường tại Champ de Mars và những người
ủng hộ việc đàn áp. Như tại Saint-Marcel. nhiều cá nhân phục vụ trong các đơn vị
vệ binh được biết đã nả súng bắn vào những thỉnh nguyện viên hôm 17 tháng Bẩy bị
tấn công hay khạc nhổ và gia đình họ bị đe dọa. Hai người đứng đầu Paris là thị
trưởng Bailly và viên tướng Lafayette được nhiều thành phần dân chúng khen ngợi.
Nhưng đối với những người khác, họ đã trở nên đối tượng bị thù ghét cực độ. Sự
đối đầu được minh hoạ thật bi thảm với sự rạn nứt chia rẽ của câu lạc bộ
Jacobin Paris. Vào khoảng giữa cuộc khủng hoảng, gần như hầu hết các đại biểu của
câu lạc bộ đã bỏ ra khỏi phòng họp với lời tuyên bố rằng xã hội {Pháp} hiện giờ
dưới bàn tay cùa những kẻ ngoan cố bên
ngoài chỉ muốn lật đổ nhà vua. Chỉ có một số nhỏ các đại biểu, trong đó có Pétion
và Robespierre lúc đầu giữ nguyên lòng trung thành. Dần dần, trong quá trình diễn
tiến của mùa hè, vào khoảng 60 tay cấp tiến trong Hội Đồng quay trở lại với xã
hội. Nhưng nhóm bất đồng chính kiến đông đảo hơn, được dẫn đầu bởi Barnave và
anh em Lameth đã tạo nên một câu lạc bộ đối đầu ở tại tu viện Feuillant bỏ hoang ở ngay bên kia đường đối diện trụ sở
Jacobins. Họ từ chối tất cả mọi nỗ lực xếp đặt một cuộc hoà giải. Trongnnhiều
tháng kế tiếp, hai phe Jacobin và Feuillant
đối đầu nhau trong sự ganh đua ngày càng đắng cay hơn, cố tranh giành
quyền lực và ảnh hưởng, không chỉ tại Paris mà trên toàn quốc. Nhiều hội đồng bầu
cử cho cơ cấu lập pháp mới diễn ra trong các thị trấn trên toàn lãnh địa đã ghi
lại những đối đầu của những người ủng hộ
địa phương giữa hai phe Jacobins và Feuillants.
Những ngày tháng tươi đẹp của thời kỳ đầu Cách Mạng khi người yêu nước
cảm thấy tự tin rằng một hỷ nguyên hạnh phúc mới và sự đoàn kết quốc gia đang ở
trong tầm tay của họ, giờ xem ra chỉ còn là ký ức xa xôi. Theo sau sự kiện trốn chạy của nhà vua và
phong trào cộng hòa tiếp theo sau, Paris tràn ngập bầu không khí tình nghi và
thù ghét. Nam nữ mọi người đã từng chia xẻ những mục tiêu chung, giờ tố cáo
nhau đủ loại liên kết nguy hiểm với bọn phản Cách mạng hay thế lực ngoại quốc.
Hội viên của 2 câu lạc bộ đối thủ rất lo sợ bị bắt gặp đi chung với người của
phe đối lập tại nơi công cộng, ngay cả với những người đã từng là bạn thân. Rabaut Saint-Etienne, một mục sư Tin Lành thuộc
miền Nam nước Pháp và là một thành viên then chốt của Ủy Ban Lập Hiến, vô cùng
đắng cay khi bị tố cáo tội đồng lõa với nhà vua, hay với bọn Anh quốc hay bọn Áo.
Giống như nhiều đồng viện, ông cảm thấy bị bao vây và tấn công bởi cả hai bên tả
phái hữu phái: thành phần cấp tiến ở một phía và đám thân hữu đạo đức giả của nhà vua và lòng nhiệt thành sai
trái về tôn giáo lên phe đối thủ như
Gaultier gọi nó. Theodore Vernier thấy dường như một lưỡi gươm buộc tội treo lơ
lửng trên đầu họ. Dưới những điều kiện như vậy, sự kiệt sức và chán ngán của các
đại biểu ngày càng tệ hại hơn bao giờ hết. “Không ai có thể diễn tả hết sự lo lắng
bồn chồn của chúng tôi bao giờ mới chấm dứt. Bouchette than vãn với một người bạn
tại Flanders: “Đại đa số các đại biểu chỉ nghĩ đến giây phút họ có thể rời bỏ.
Cuộc sống chúng tôi ở đây đã bị hủy hoại. Nếu điều đó không nhanh chóng kết thúc,
chúng tôi sẽ không thể chống đỡ.
Tiếp tục làm vua
Cảm nhận được sự mất kiên nhẫn của công chúng với quá nhiều thời gian
họ dùng để soạn thảo một bản Hiến Pháp, lúc này đã qua trên 2 năm, các đại biểu
đẩy mạnh công tác cho sự hoàn thành công việc của họ càng sớm càng tốt. Ủy ban
Lập Hiến đầy quyền lực và một ban liên hiệp tu chính đã làm việc trong nhiều tháng,
lọc lựa trong hàng đống các nghị quyết đã
được ngẫu nhiên thông qua kể từ khởi đầu cuộc Cách Mạng, cố gắng quyết định xem những cái nào thuộc về Hiến Pháp, cái nào đơn
giản chỉ là luật lệ. Tuy vậy, toàn thể diễn tiến vẫn kéo dài trong nhiều tuần lễ
vì những hận thù phe phái trong nội bộ HĐCMQG. Phe Feuillant thống trị hai ủy
ban đã đi đến kết luận rằng sự nguy hiểm của một thể chế cộng hòa thì quá lớn so
với bất cứ tiềm năng đe dọa nào đến từ thể chế quân chủ. Kể từ cuối tháng Sáu,
Barnave, Duport và anh em Lameth đã tái
khởi sự việc bí mật thương lượng với nhà
vua. Trong một thời gian riêng tư với hoàng
hậu khi đi hộ tống hoàng gia trở về Paris từ Varennes, Barnave đã đề xuất một
thoả thuận. Ông ta cùng những người bạn của ông hứa làm mọi thứ trong quyền hạn
của họ để giữ lại thể chế quân chủ và củng cố uy quyền của nhà vua. Đối lại, họ
chỉ yêu cầu nhà vua chấp nhận bản Hiến Pháp và đạt được sự công nhận tân chính
quyền Pháp từ đế quốc Áo.
Nhưng khi nhóm Feuillant cố thôi thúc qua những thay đổi trong bản Hiến
Pháp, tái lập uy quyền của nhà vua và gìới hạn dân chủ, họ đã bị Pétion,
Robespierre và nhóm Jacobin mạnh mẽ chống đối ở tất cả mọi bước. Lúc này, tự
nhiên nhóm Jacobin tìm được những đồng minh bất ngờ. Toàn thể các bộ phận của Hội
Đồng Trung Ương không theo phe nhóm bắt đầu nghi ngờ các động cơ của Barnave và
nhóm bạn của ông. Thibaudeau, một thẩm phán trung hòa tại Poitou được thuyết phục
rằng đám lãnh đạo Feuillant chỉ muốn trở thành các vị bộ trưởng trong chính phủ
mới: “Chúng tôi ngày càng nghi ngờ những người này, họ đã từng được coi là những
nhà ái quốc kiên quyết, nhưng cũng lúc này chúng tôi biết ra rằng chính họ có
những âm mưu đầy tham vọng.” Những người khác quá kinh ngạc về những người trước
đây tưởng là rất dân chủ lại đã nhanh chónng đảo ngược vị thế của họ. Cuối cùng,
hai phe cánh cùng các đồng minh của họ đã đấu tranh với kết quả hòa nhau
và chỉ có một số thay đổi nhỏ nhặt từ trong văn bản gốc của Hiến Pháp được
thông qua.
Cuối cùng vào ngày 3 tháng Chín, hoàn toàn kiệt sức vì những cuộc đấu
tranh, các đại biểu tiến tới một sự đồng ý cuối cùng và Hiến Pháp được tuyên bố
hoàn tất. Vào 9 giờ tối hôm đó, một phái đoàn trên 200 đại biểu đã đi bộ dưới ánh
đuốc có vệ binh, hoặc đi bộ hoặc trên lưng ngựa, đi hộ tống để trình văn bản lên
nhà vua tại hoàng cung Tuileries. Vua Louis gặp gỡ họ tại đại sảnh đường cùng với
các vị bộ trưởng bên cạnh và tuyên bố rằng ông sẵn sàng để xem xét Hiến Pháp. Mọi
người bỗng nhận ra rằng nếu nhà vua phủ nhận văn bản, HĐCMQG có lẽ phải truất phế ông khỏi ngai vua và thương lượng lại
với tất cả các vấn đề với một chấp chính nhân danh người kế vị ngai còn quá trẻ.
Bronchette viết: “Đây là lúc chúng ta biết nhà vua là bạn hay thù của đất nước.
Mọi việc tuỳ thuộc vào quyết định của ông.”
Trong khi các đại biểu chờ đợi và căng thẳng tiếp tục gia tang, Louis
cẩn thận đọc văn bản và cân nhắc sự lựa chọn.
Nhà vua nhận thức rằng hơn 200 đại biểu quý tộc và giáo sĩ, những người đã
tẩy chay tất cả các nghị quyết của Hội Đồng
kể từ cuối tháng Sáu cũng đã phủ nhận văn kiện. Nhưng cuối cùng, vào 13 tháng
Chín, nhà vua loan báo là ông chấp nhận bản Hiến Pháp. Ngày hôm sau, nhà vua đã
xuất hiện trước mặt HĐCMQG để ký tên đóng dấu và tuyên bố lời thề tuân thủ. Nhà
vua cũng ban hành một văn bản giải thích vị trícủa ông, một văn bản thực sự được
một trong những bộ trưởng của vua viết nhưng do nhà vua ký tên như chính lời lẽ
của chính ông. Trong đó một lần nữa, ông cố giải thích sự kiện chạy tới
Varennes. Hoàn toàn phớt lờ những tuyên bố
ngày 21 tháng Sáu do chính tay ông viết, nhà vua tuyên bố rằng ông chỉ
muốn trốn tránh những phe phái và bạo lực tại Paris. Ông nói: “Ta mong ước tự cô
lập mình xa khỏi những xung đột phe phái và để xác định cái vị thế nào thực sự đại
diện cho ý nguyện của quốc gia.” Ông thú nhận rằng, mình vẫn chưa tin tưởng rằng
chính quyền mới có đủ năng lực cần thiết để kiểm soát và liên kết các phần khác
nhau của một quốc gia quá to lớn như nước Pháp. Tuy nhiên nhà vua tuyên bố rằng
ông sẵn sàng thử xem sao: “Ta sẽ thử xem xét cái kinh nghiệm đó một mình rồi sẽ
phán đoán xem có thể xử dụng hay không.” Rồi nhà vua tuyên thệ sẽ làm mọi thứ
trong quyền hạn của mình để thực thi Hiến Pháp. Ông hứa hẹn: “Ta sẽ chấp nhận nó
và ta bảo đảm rằng nó sẽ được thi hành.”
Cùng một lúc, hoặc do chính sáng kiến của riêng ông hoặc do sự thúc đẩy
của các bộ trưởng, nhà vua đề xuất một cuộc đại ân xá cho tất cả những ai bị tố
cáo hay kết tội có những hành động liên quan tới Cách Mạng: Để dập tắt những hận
thù, để làm nguôi ngoai những rắc rối tạo nên bởi loại cách mạng như thế này,
chúng ta hãy cùng đồng tâm quên đi quá khứ.” Để hoan nghênh chào mừng, HĐCMQG đã
tức khắc chấp thuận đề xuất của vua. Trong khắp cả nước, cánh cửa nhà tù mở rộng
cho tất cả tù chính trị ở mọi phía, cho dù đã bị kết tội hay đang chờ xét xử. Cộng
Hòa cấp tiến, qúy tộc phản cách mạng, giáo sĩ ngoan cố cũng như tất cả những
người dính líu tới cuộc chạy trốn của vua, tất cả đều được trả tự do. Lần đầu
tiên trong gần ba tháng trời, công tước De Choiseul, Goguelat và Damas, những
tay chủ chốt trong cái âm mưu chạy trốn thần sầu để giải cứu nhà vua mới được
phép ra khỏi buồng giam. Không lâu sau đó, cả ba đã vượt biên qua sông Rhine để tham gia vào lực lượng đám quân lưu vong.
Vua Louis cũng được miễn xá cho hành động của ông để tiếp tục giữ trách
nhiệm như người đứng đầu cơ quan hành pháp của chế độ quân chủ lập hiến. Đã nhiều
tuần lễ, hoàng gia bị giam lỏng trong hoàng cung, bị canh giữ cả ngày lẫn đêm,
bị giới hạn nghiêm ngặt số lượng người được phép gặp gỡ và ngay cả bị ngăn cấm
tới gần các cửa phòng ngoại trừ khi thay
quần áo. Các đại sứ nước ngoài không được phép tiếp xúc với nhà vua mà chỉ qua
vị bộ trưởng ngoại giao. Tuy nhiên, lúc này nhà vua được ra ngoài trở lại cuộc
sống bình thường và đi đứng tự do trong phạm vi thủ đô Paris. Nhà vua đã có mặt
tại nhiều lễ hội trong các buổi lễ ăn mừng Hiến Pháp hoàn tất có hòa nhạc, nhảy
múa, pháo bông và lễ hội ánh sáng vào
ban đêm. Khi vua di hành quanh thành phố, theo như một số báo cáo, ông đã được
chào đón với những lời tung hô mà nhà vua yêu thích: “vạn tuế đức vua.” Cùng thời
điểm, HĐCMQG đã bỏ phiếu để viết lại từ ngữ “vua” vào trong lời tuyên thệ trung
thành mà tất cả các viên chức hành chánh và sĩ quan quân đội được yêu cầu tuyên
thệ. Vào cuối tháng Chín, với ngành “hành pháp”
trở lại hoạt động bình thường. HĐCMQG Lập Hiến chính thức giã biệt sau 2 năm và 3 tháng hiện hữu. Hội Đồng trao quyền lại cho
một nhóm đại biểu hoàn toàn mới, những thành viên Hội Đồng Lập Pháp được chọn trước
đây. Ít nhất trên lý thuyết, Cách Mạng đã kết thúc. Ít nhất trên lý thuyết, cuộc
chạy trốn của nhà vua đã được tha thứ và quên đi.
Nhưng thực sự điều đó có thể được quên lãng không? Giờ đây, vua Louis đã
trang trọng tuyên thệ bảo vệ Hiến Pháp, nhưng chỉ mới mấy tuần lễ trước đó, ông
đã đơn phương phủ nhận lời thề trước đây với chính Hiến Pháp này. Có lý do gì để nghĩ rằng ông sẽ
không lập lại hành vi đó nữa? Giống như mọi nam nữ công dân Pháp khắp nơi, các
vị đại biểu thật khổ tâm với nghi vấn này. Giờ đây nhiều người tin tưởng, hay đúng
hơn là hy vọng tin rằng, cuối cùng nhà vua đã thay đổi đường lối của ông và thành
thực chấp nhận tuân thủ đúng luật chơi. Theo như đại biểu Legendre của Breton,
Hội Đồng bây giờ tin tưởng rằng nhà vua đã được khai thông bởi bài học trải
nghiệm khó khăn, chắc sẽ tự nguyện chấp nhận và yêu qúy Hiến Pháp. Người bạn đồng
viện Vernier cũng đồng ý: “Qua nhiều phản ánh, chúng tôi tiếp tục nghĩ rằng nhà
vua khá trung thực.” Nhưng không phải tất cả các đại biểu cùng chia xẻ quan điểm
tích cực này. Thibaudeau bị ám ảnh với những ảnh hưởng xấu xa của giới quý tộc
giờ này lại bu quanh nhà vua. Họ nói với nhà vua: “Hãy bước tới và chấp nhận Hiến
Pháp. Và rồi khi thời cơ thay đổi, ngài lại nói là ngài bị ép buộc và không có
sự chọn lựa nào khác.” Faulcon cũng lo nghĩ rằng nhà vua có thể lại đang đưa ra
một lời thề thốt sai lầm khi tuyên thệ một cam kết mà ông không có ý định tuân
thủ.” Tu viện trưởng Lindet còn đi đến một kết luận đầy mỉa mai: “Nhà vua đã thề
duy trì Hiến Pháp. Ông ta sẽ giữ lời ở một mức độ khi nó còn thích hợp với ông.”
Các đại biểu có thể dễ dàng đánh giá một bức tranh biếm họa đang lan truyền rộng
rãi trong nhiều tuần lễ sau đó: Vua Louis được biểu tượng giống như Janus, một
vị vua có 2 khuôn mặt. Một cái trìu mến nhìn về phía một đại biểu tuyên bố: “Ta
sẽ duy trì Hiến Pháp.” Mặt kia hướng về phía một giáo sĩ lưu vong loan báo: “Ta
thề sẽ huỷ diệt Hiến Pháp.”
Những nghi ngờ như vậy thật dễ dàng tìm thấy. Mặc dù có những bảo đảm
ngược lại, cả nhà vua và hoàng hậu là những kẻ hai mặt sau cuộc trốn chạy bất
thành của họ giống như trước đó. Họ nhanh chóng nối lại sự liên lạc bí mật với
các vương quốc nước ngoài của Âu Châu, trong chốn riêng tư lại phủ nhận tất cả những lời tuyên bố công
khai về việc ủng hộ Hiến Pháp. Trong mối liên hệ này, các hành động của
Marie-Antoinette đặc biệt đáng lưu ý.
Chuyện bà hoàng hậu có khi nào quan tâm sâu xa đến những bàn luận với
Barnace trong hành trình trở về Paris từ Varennes hay không, thật khó khăn để
biết. Trong những tuần lễ tiếp theo, bà liên tục bí mật gặp gỡ viên đại biểu trẻ
của vùng Frenoble. Xử dụng mọi mưu kế của triều thần có kinh nghiệm, bà dẫn dắt
anh ta tới một sự xác nhận tốt đẹp về sự thành thật cuả bà và sự đánh giá cao của
bà đối với việc anh ta thông cảm cho trường hợp của bà. Nhưng rồi bà cứ tiếp tục bí mật gửi các mật
thư đã mã hoá ra ngoài cho Fersen hay cho viên đại sứ nước Áo hoặc cho vị hoàng
đế Áo, người anh lớn của bà. Những lá thư trong đó bà chối bỏ tất cả những gì bà
nói với Barnave. Bà nổi giận vì những lời
sỉ nhục hoàng gia sau cuộc chạy trốn thất bại, tố cáo các đại biểu là bọn vô lại, côn đồ và điên khùng. Bà lên án toàn
thể Hiến Pháp là hoàn toàn vô lý và không thể thực hiện.
Không kém hoàng hậu, nhà vua cũng tiếp tục theo đuổi trò chơi hai mặt.
Chỉ vài tuần lễ sau chuyến chạy trốn thất bại, Louis đã tìm cách chuyển ra ngoài
một mảnh giấy do chính tay ông viết cho hoàng đế nước Áo. Ông nói rằng ông rất
tiếc đã không thể lấy lại tự do cho chính mình trong ngày 21 tháng Sáu và để
tham gia cùng những người Pháp đang thực sự mong ước những lợi ích tốt đẹp nhất
cho đất nước. Ông cảm thấy mình là một tù nhân không thể kiểm soát số phận của
chính mình, và ông muốn ông anh vợ của ông biết điều đó. Và lần đầu tiên trên đời,
ông hối thúc vị hoàng đế đến cứu giúp ông và cả vương quốc Pháp, một sự hàm ý mạnh
mẽ là ông hy vọng có một cuộc can thiệp quân sự. Qua tháng Chín, có lẽ phiền muộn
với tình trạng lưỡng lự cố hữu không thể quyết định, bằng cách nào đó, Louis có lẽ đã thay đổi vị
thế của ông. Trong một bức thư gửi cho 2 người em trai đang lưu vong, nhà vua bàn bạc rằng chính sách tốt nhất lúc này là chờ
đợi và để cho chính quyền Cách mạng tự sụp đổ từ những điều bất hợp lý của chính
nó. Ông khuyên 2 người em đừng cố xúi giục gây chiến tranh, e rằng có những hậu
quả không hay cho đất nước mà hành động đó
có thể mang đến. Nhưng ông cũng loan báo sự tố cáo của ông rằng cái tư
tưởng về “quyền con người” thật vô cùng điên rồ. Ngay cả cho dù một số thường dân
lúc này hy vọng nâng cấp địa vị của họ lên khỏi
vị trí tự nhiên của họ, ông vẫn tin rằng sự liên hệ giữa ông và giới quý
tộc là chuỗi ngọc cổ xưa và quý giá nhất trên vương miện của ông.
Dù sao đi nữa, vào tháng Mười Hai 1791, nhà vua dường như đã đảo ngược
vấn đề. Trong một lá thư gửi cho nam tước
de Breteuil, viên bộ trưởng ngoại giao đang lưu vong, ông bình luận về sự tạo nên
một Quốc Hội nắm các quyền lực chính của châu Âu được các lực lượng vũ trang hỗ
trợ. Ông tin rằng đây có lẽ là cách tốt nhất để tái thiết lập “một vị thế đáng
mơ ước và bảo đảm rằng bọn tội phạm đang bao vây chúng ta sẽ không lan toả sang
các quốc gia Âu Châu khác.” Giờ đây rõ ràng ông đã bỏ qua một bên sự do dự của ông
chống lại chiến tranh. Nhà vua dường như thúc đẩy một sự can thiệp trực tiếp bởi
các siêu cường để thay đổi Hiến Pháp mà ông đã thề bảo vệ nó.
Đó là tình thế nước Pháp vào đầu năm 1792. Ở một nơi khác thời điểm khác,
Louis XVI có thể đã kết thúc ngôi vị của ông trong hoà bình. Ông cũng có thể được
hậu thế phán xét như một vị vua không tệ lắm.
Không nghi ngờ gì là ông muốn điều tốt đẹp nhất cho thần dân của ông. Kích
động bởi cuộc khủng hoảng tài chánh với những yếu tố khó khăn chưa hề xẩy ra, cùng
với các hành vi không chắc chắn và thiếu bền chí của chính ông, nhà vua đã cố gắng
làm cuộc cải tổ chính quyền. Nhà vua đã tuyên bố một cách trung thực trước mặt Hội ĐồngCách Mạng Quốc Gia trong ngày
23 tháng Sáu 1789 rằng chưa bao giờ có một vị vua làm được nhiều việc như vậy
cho một quốc gia. Nhưng vào thời điểm ông đọc bài diễn văn này, quan điểm về cải
tổ của ông và của các nhà ái quốc đang lắng nghe ông đã khác hẳn nhau. Quả thực,
chẳng qua chỉ là sự suy nghĩ mơ ước ở về phía các nhà ái quốc và sự lừa gạt bên
phía nhà vua mà cái huyền thoại về một “ công dân vua” tồn tại được lâu đến thế.
Giờ đây, dưới áp lực của các biến cố và dưới ảnh hưởng của hoàng hậu, Louis lại
quay trở về với những giá trị mà nhà vua đã được giáo dục khi còn thơ ấu, các
giá trị bao gồm quyền cai trị đất nước của nhà vua do Thượng Đế ban cho và cái
trật tự xã hội và cái tính chất tự nhiên về nền tảng bất bình đẳng của xã hội. Đó
là cái quan điểm đưa ông đi đến một đường
hướng xung đột với người dân trong cuộc Cách Mạng.
Thời Khủng bố và sau đó
Những năm tháng sau cuộc Cách Mạng Pháp có lẽ không được tốt đẹp cho
nước Pháp hay cho nhiều cá nhân được
nói đến trong câu chuyện này. Hiến Pháp mà những người trong năm 1789 đã
phải vật lộn trong hơn 2 năm để hoàn thành
và mọi người hy vọng nó sẽ phục vụ như một khuôn mẫu cho mọi quốc gia trên
thế giới chỉ tồn tại vỏn vẹn 11 tháng. Tân Hội Đồng Lập Pháp (THĐLP) do chính
Hiến Pháp tạo nên đã vô cùng bị sâu xé ngay từ buổi đầu với những cuộc đấu
tranh giữa hai phe Jacobins và Feuillants. Hơn cả nhóm các đại biểu tiền nhiệm,
các nhà Lập Pháp bị ám ảnh vì những nghi ngờ bị phản bội từ phía nhà vua, nhất
là sau khi vua Louis xử dụng quyền phủ quyết để ngăn chặn những nghị quyết chống
lại các nhà quý tộc nhập cư và các giáo sĩ ngoan cố. Tin đồn cứ tiếp tục lan
truyền rằng một ủy ban “người Áo” được bí mật tổ chức chung quanh hoàng hậu đang
phá hoại ngay trong nội bộ chế độ mới, một loại tin đồn thực ra cũng không sai
lắm. Những lo sợ như vậy càng được củng cố bởi một thoả thuận chung được ký vào
tháng Tám 1791 trong một lâu đài của người Đức ở tại Pillnitz. Tại đây, ông anh ruột Leopold của hoàng hậu,
có lẽ phản ứng theo cái yêu cầu khẩn cấp của Louis đã hối thúc tất cả cáctriều đại
vương quốc Âu Châu xử dụng lực lượng vũ trang để đoạt lại vương triều Pháp. Lo
lắng vì những âm mưu hoạch định bởi các lực lượng ngoại quốc bí mật đồng minh với
triều đình nước Pháp, và bị thúc đẩy qua tài hùng biện của Jacques Brissot và
những người khác muốn đẩy mạnh một cuộc thập tự chinh vĩ đại để truyển bá các tư
tưởng Cách Mạng trong suốt Âu Châu, các vị đại biểu tuyên bố chiến tranh với Áo
vào tháng Tư 1792. Không lâu sau đó họ thấy mình dính líu luôn vào sự xung đột
với nước Phổ. Như vậy THĐLP đã đẩy đất
nước vào cuộc chiến mà những người tiền nhiệm của họ đã hy vọng tránh né được.
Cuộc chiến khởi đầu bất lợi cho Pháp. Vào mùa hè 1792, cuộc xâm lăng mà
mọi người đã lo sợ ở thời điểm biến cố Varennes đã trở thành thực tại. Quân của
Áo và Phổ đã chọc thủng hàng rào và đồn luỹ phòng thủ của Pháp, chiếm giữ
Verdun và Varennes, rồi bắt đầu một cuộc hành quân tuy chậm chạp nhưng có quy củ để tiến tới Paris. Đối diện với sự tiến quân của
quân Đức và càng tin chắc hơn bao giờ hết về sự phản bội của nhà vua, người dân
Paris đã vùng dậy vào tháng Tám năm đó trong một cuộc Cách Mạng thứ hai vô cùng
xác thực. Họ đi theo những tư tưởng lúc đầu được những người cộng hòa khởi xướng
vào tháng Bẩy 1791 và được thúc đẩy bởi những người đã tham gia vào phong trào đó,
người dân Paris và các đơn vị vệ binh từ các tỉnh lỵ đã dẫn đầu một cuộc nổi loạn
chống lại nhà vua. Vào ngày 10 tháng Tám,
Louis và hoàng gia bị buộc phải tản cư khỏi hoàng cung Tuileries, nơi đã bị quân
nổi dậy đột kích trong một cuộc đối đầu đẫm máu, bỏ lại gần 1000 người chết
ngay tại trung tâm thành phố. Cuộc Cách Mạng thứ hai này đã mang đến một đợt sóng
lớn dân chủ, với hầu như mọi người dân Pháp, bất kể giàu nghèo, giờ đây đều được
ban cấp quyền đi đầu phiếu và quyền nắm
giữ chức vụ hành chánh. Sáu tuần lễ sau đó,
một Hội Nghi Quốc Gia cấp tốc hội họp chính thức truất phế nhà vua và thành lập
nền Cộng Hòa Pháp đầu tiên vào ngày 21 tháng Chín 1792.
May mắn cho nền tân Cộng Hòa, quân lực Pháp đã kịp chỉnh đốn để quần tụ
lại với nhau. Xây dựng trên lòng nhiệt tình với chủ nghĩa quốc gia và niềm tự
tin phát huy vào thời điểm nhà vua chạy trốn, họ đã ngăn chận được quân Phổ tại
mặt trận Valmy, nơi chỉ cách Sainte-Menehould có vài dặm đường và là chỗ Drouet
đã nhận diện được nhà vua đầu tiên. Cuối cùng, cũng chính đoàn quân này đã đưa
quân vượt biên giới Pháp để xâm lăng và “giải phóng toàn khu vực Tây Âu.” Nhưng
trong những năm tiếp theo, quốc gia lại rơi vào những giai đoạn nghi ngờ đầy ám
ảnh, đấu tranh huynh đệ tương tàn và tình trạng gần như vô chính phủ. Với cuộc
nội chiến và sự nổi dậy của nông dân nổ ra trên những khu vực rộng lớn của đất
nước, với hầu hết Âu Châu bày binh bố trận chống lại nước Pháp, với nhóm cấp tiến
“sans-culottes” thúc đẩy đòi hỏi những điều kiện kinh tế tốt hơn và trả thù chống
lại đối thủ của họ, chính quyền cộng hòa đã thiết lập một cuộc trấn áp còn rộng
lớn hơn cả cuộc trấn áp năm 1791. Trước khi cơn bão khủng bố này kết thúc, có lẽ
khoảng chừng 18 ngàn người cả nam lẫn nữ thuộc đủ mọi phe nhóm xã hội đã bị toà
án hành quyết, và còn nhiều chục ngàn người khác bị sát hại trong cuộc nội chiến
tương tàn và trong các màn trả thù bí mật.
Trong tất cả các vụ hành hình, không có vụ nào bi thảm và để lại hậu
quả hơn vụ xử tử chính vua Louis. Vào những tuần lễ cuối cùng năm 1792, sau nhiều
tháng bị giam cầm, nhà vua bị đưa ra toà án trước mặt Hội Nghị Quốc Gia. Trong
suốt quá trình xét xử, nhà vua và các luật sư của ông kiên quyết cãi rằng Hiến
Pháp năm 1791 bảo đảm cho ông quyền xá miễn khỏi bị xử tội và rằng trước
khi Hiến Pháp được ký, đã không có luật
lệ nào quy định về việc kết tội các hành động của ông. Nhà vua tiếp tục phủ nhận
chuyện chạy trốn tới Varennes của ông, cho đó chỉ là một cuộc du hành đơn gỉản. Và ông mạnh miệng bác bỏ
bất cứ đề nghị nào rằng ông phải chịu trách nhiệm cho việc đổ máu của người dân
Pháp. “Có hàng trăm ngàn chứng cớ biện minh cho tình yêu thương của trẫm đối với
thần dân, và điều này thật rõ ràng. Lương tâm trẫm không hề khiển trách trẫm điều
gì.” Nhưng trước khi phiên toà bắt đầu,
các nhà Cách Mạng đã khám phá ra một cái rương (hòm) bí mật giấu kín đằng sau
khu trại mộc trong hoàng cung Tuileries chứa đựng những đồ cất giấu gồm các giấy
tờ tài liệu của vua. Nhiều tài liệu trong đó do chính tay nhà vua viết và chúng
cung cấp bằng chứng rõ rệt về những gian dối lừa gạt của vua, những nỗ lực của ông
để chống đối hay cản trở Cách Mạng, và sự thông đồng của ông với những tay phản
Cách Mạng. Hầu hết những tố cáo chính thức chống lại nhà vua đặt căn bản trực
tiếp trên những tài liệu này. Điều khoản dài nhất của việc truy tố liên quan tới
cuộc chạy trốn thất bại của vua, về các khoản chi tiêu công quỹ của ông để thực thi kế hoạch này và sự chối bỏ Hiến Pháp
trong các văn kiện mà ông bỏ lại trong văn phòng. Sau cuộc tranh luận kéo dài,
Hội Nghị đã bỏ phiếu hầu như hoàn toàn đồng
ý rằng nhà vua phạm tội âm mưu chống lại tự do và an ninh của đất nước. Không lâu
sau đó ông bị kết án tử hình. Ngày 21 tháng Giêng 1793, trước hàng chục ngàn
người dân Paris trang trọng tham dự tại Công Trường Cách Mạng, sau này đổi tên
là công trường Concorde, nhà vua Louis XVI bị đưa lên đoạn đầu đài. Cho tới phút
chót, ông vẫn kêu mình vô tội.
Cho đến năm 1795, chỉ có 2 trong số 6 ngưởi ngồi trên chiếc xe ngựa định
mệnh chạy trốn khỏi Paris vào giữa một đêm hè 1791 còn sống sót. Hoàng hậu
Marie-Antoinette, người mà những hoạt động phản quốc có khi còn rõ rệt hơn cả
nhà vua chồng bà (Bà từng bí mật gửi tiết lộ ra ngoài các kế hoạch tác chiến của
quân Pháp cho người Áo) đã theo chân Louis bị bịt mắt lên máy chém vào tháng Mười
cùng năm. Em gái nhà vua, công chúa
Elizabeth, phạm tội thuộc về dòng giõi Bourbon và đã đồng loã với anh mình bị
chặt đầu tháng Năm 1794. Hơn một năm sau đó, vị thái tử trẻ mà nhóm ủng hộ hoàng
gia nhất quyết gọi là Louis XVII ngã gục vì bệnh tật trong tù. Công chúa chị gái
của thái tử cũng chịu số phận tương tự, nhưng như một trong những trớ trêu nhất
của toàn diễn tiến lịch sử, cô được phóng
thích vào năm 1796 qua một cuộc trao đổi tù nhân cho Jean-Baptiste Drouet, người
đã đóng vai trò then chốt trong việc ngăn chận được cuộc chạy trốn của vua và là
một thành viên của Hội Nghị đã bỏ phiếu kết án tử hình Louis và đã bị quân đội
nước Áo bắt làm tù binh 2 năm trước trong một nhiệm vụ trong quân đội Pháp. Sau
khi trở về Paris và qua hàng loạt các cuộc phiên lưu cả trong lẫn ngoài nước Pháp,
trong và ngoài nhà tù lẫn chính trị, Drouet lập gia đình và ẩn mình dưới một nhân
thân mới tại một tỉnh lỵ. Ông đã qua đời tại đó năm 1824 một cách an bình.
Nhưng nói chung, hầu hết các khuôn mặt ái quốc chính thức trong câu
chuyện này cũng không được may mắn lắm. Không ai trong số 2 đại biểu đến hộ tống
hoàng gia trở lại Paris từ Varennes còn tồn tại sau cuộc Cách Mạng. Sau sự thất
bại của phe cánh Feuillant và sau khi đã về hưu trí tại quê nhà, Barnave bị bắt
giữ và bị xử tử vì tội hỗ trợ nhà vua vào
cuối năm 1793. Pétion, người từng phục vụ một thời gian là thị trưởng thành phố
Paris, cuối cùng cũng rã đám với người bạn Robespierre, trốn thoát khỏi Hội Nghị
và tự tử khi đang trốn tránh ở miền Nam
nước Pháp. Nhà triết học và là thành viên
hàn lâm viện Jean-Sylvian Bailly đã từ bỏ
hoạt động chính trị vào cuối năm 1791. Nhưng ông ta cũng bị bắt và kết án tử hình vì có dính líu một phần đến cuộc tàn sát tại Champ
de Mars vào ngày 17 tháng Bẩy, ông bị hành quyết tại ngay nơi vụ bắn giết đã xảy
ra. Rabaut Saint-Etienne và Condorset, Brissot và Marie-Jeanne Roland, Danton và
Robespierre cũng bị đưa lên máy chém cùng với nhiều nhà lãnh đạo của các phe phái
lớn của Cách Mạng. Tướng Lafayette sống còn, nhưng chỉ sau khi đã trải qua 5 năm
tàn tạ trong nhà tù nước Áo, nơi ông bị bắt cùng với người bạn Latour-Maubourg
và một người từng là đối thủ chính trị Alexandre Lameth của ông. Ông Sauce, người chủ tiệm tạp hoá tại Varennes đã từng bắt giữ nhà vua
và đưa hoàng gia trú ngụ qua đêm trong
nhà mình cũng sống sót qua cuộc Cách Mạng, nhưng cuộc sống của ông bị hủy hoại
vì bất hạnh. Bị những người phò vua nguyền rủa như một kẻ đại nghịch, ông ta cũng
bị những người làm Cách Mạng có khuynh hướng quân chủ lập hiến nghi ngờ. Sau
khi chạy trốn để bảo toàn mạng sống và mất người vợ đầu trong cuộc chiến xâm lăng
của quân Phổ, ông rời bỏ quê nhà và qua đời lặng lẽ vào năm 1825.
Đối với hầu hết sự kiện, những người âm mưu bảo hoàng vào năm 1791 lại
may mắn hơn nhiều so với đối thủ ái quốc của họ. Sau khi ở trong tù được thả ra
qua cuộc đại ân xá tháng Chín, Choiseul, Goguelat, Damas và ba tay vệ sĩ đã
theo chân tuớng Bouillé và các con trai ông ta đi lưu vong. Ngoại trừ viên tướng
Bouillé, tất cả đã sống sót qua cả hai thời kỳ Cách Mạng và Napoleon để quay về
Pháp sau năm 1814, còn được chính phủ phục hồi bảo thủ tung hô như những anh hùng.
Axel von Fersen cũng sống sót qua thời Cách Mạng. Với một sự táo bạo đơn độc, ông
ta bí mật từ nơi lưu vong tại Brussels
quay về Paris tháng Hai 1792 thăm viếng bà hoàng hậu lần cuối cùng tại hoàng
cung Tuileries. 18 tháng sau đó, đau lòng với tin Marie bị tử hình, ông quay trở
về Thuỵ Điển. Ông viết cho cô em gái trong nỗi thất vọng: “Giá như anh có thể
được chết bên cạnh hoàng hậu.” Ông không bao giờ lập gia đình và tiếp tục nhắc
nhở đến hoàng hậu với một tình cảm sâu đậm ngay cả khi ông đã lên tới một vị thế
cao trọng trong triều đình Thụy Điển. Ông bị sát hại trong cuộc dấy loạn tại Stockhom
trong năm 1810. Đó chính là 19 năm kể từ ngày ông tạo ra cuộc trốn chạy vĩ đại
mà nó suýt thay đổi số phận của nước Pháp.
Kết luận: Quyên lực của một biến cố.
Những người này, cả nam lẫn nữ, danh tiếng hay tầm thường, vua chúa
hay thường dân, hầu như tất cả bọn họ đã khởi sự với những niềm hy vọng vững chắc
là sẽ có một tương lai tốt đẹp hơn vào năm 1789, liệu họ có xứng đáng phải hứng
chịu số phận của họ không? Qua hơn 200 năm, các sử gia đã vật lộn với những vấn
đề bạo lực và khủng bố trong cuộc Cách Mạng Pháp. Có phải là có điều gì đó
trong trạng thái tự nhiên của tình thế xã hội nước Pháp hay ngay trong tư tưởng
và văn hoá chính trị của buổi đầu Cách Mạng đã làm cho bạo loạn xã hội không thể
tránh khỏi? Phải chăng có một sự nối kết
cần thiết giữa khởi đầu Cách Mạng và sự thống trị khủng bố, giữa Hội Đồng Cách
Mạng Quốc Gia và Ủy ban An Ninh Công cộng, giữa nhà tù Bastille và giàn máy chém?
Câu chuyện nhà vua chạy trốn cảnh giác chúng ta không nên nối kết các
sự kiện một cách thẳng đứng đơn thuần. Điều đó giúp nhắc nhở chúng ta về cái tính
chất bất ngờ, không tiên đoán được của cuộc Cách Mạng và có lẽ cả của toàn
phong trào mang tính lịch sử. Điều gì có thể đã xảy ra trong lịch sử Pháp, lịch
sử Âu Châu nếu các biến cố chỉ cần có một chút thay đổi khác đi, và Louis cùng
hoàng gia tiến tới được đích đến Montmédy và cuối cùng băng qua biên giới tìm
được chổ tỵ nạn với đoàn quân nước Áo?
Quả thật, trong 2 ngày tháng Sáu ấy, khi mọi người tin rằng nhà vua đã
ra đi mãi mãi và rằng chiến tranh đã gần kề, đã có một đoàn kết đồng lòng lạ
thường trong HĐCMQG tại Paris và trong cả nước. Liệu sự đồng thanh hòa nhịp đó
có bền vững nếu như nhà vua không quay về và chiến tranh nổ ra không? Có thể nào dân tộc Pháp chuyển đổi ngay qua
thể chế cộng hòa như những người cánh trung hòa Lafayette và Dupont de Nemours
đề nghị trong ngày 21 tháng Sáu? Liệu chuyện khủng bố có thể tránh khỏi hoặc ít
ra chỉ thật nhỏ nhoi yếu ớt không? Và một điều tuy khó có thể xảy ra, nhưng liệu
thế giới sẽ ra sao nếu như vua Louis kháng
cự lại ảnh hưởng của hoàng hậu và không chịu bỏ trốn, và ông sẵn sàng thích ứng
với vai trò một vị công dân vua mà hầu hết người dân Pháp nhiệt tình mong đợi? Liệu nước Pháp có tiến tới một nền dân chủ chân
thật trong hoà bình giống như những bước đi của nền dân chủ Hoa Kỳ? Giải đáp
cho một loạt những câu hỏi “nếu như” này dĩ nhiên không thể có cũng không lường
trước được. Tuy vậy, những phản ánh như thế nhấn mạnh cái tác động đầy tiềm năng
lên cuộc Cách Mạng và lên lịch sử về những biến cố tới hạn chắc chắn của thời đại.
Thể chế tự do đã được người dân Pháp khởi sự vào năm 1789, rất tương tự
trong nhiều lãnh vực với hệ thống dân chủ Hoa Kỳ cũng đang trong giai đoạn xây
dựng ở bên kia bờ Đại Tây Dương, không cần thiết phải chết yểu. Không có gì
nghi ngờ rằng vào buổi tối hôm nhà vua chạy trốn, các nhà lãnh đạo của HĐCMQG đã
đương đầu với một loạt các vấn đề khó khăn với những nguồn gốc của sự bất ổn. Một
số trong những vấn đề này rõ ràng xuất phát từ vị vua của họ. Quyết định của các
đại biểu để cải tổ hệ thống giáo hội Công
Giáo và ép buộc đa số các giáo sĩ tuyên thệ trung thành với Hiến Pháp đã mang đến
nỗi bất hạnh sâu rộng tới toàn thể hàng giáo phẩm nước Pháp và cả người dân thế
tục. Những khó khăn khác dường như phát xuất từ ngay bản chất của chính diễn tiến
Cách Mạng. Không có sự phát triển nào tại Pháp
sau biến cố 1789 điển hình hơn một
nghi vấn đang diễn tiến về thẩm quyền, một
nghi vấn nhanh chóng thấm sâu vào nhiều tầng lớp xã hội. Trong quân đội,
trong lực lượng vệ binh, trong các hội đoàn, trong sự hiện diện của người thu
thuế, trong phạm vi nền văn hoá dân sự thành phố, hầu hết mọi người nam nữ đã bắt
đầu từ chối đi theo những luật lệ được thiết lập bởi cả hai chế độ cũ mới thường
có những kết quả phân chia quá cực đoan.
Cùng lúc đó, hành động biến đổi xã hội đã dấy lên sự phản kháng trong số
những ngưởi được ban cấp các lợi ích và những vị trí xã hội ưu ái của họ bị tấn
công. Vào mùa xuân 1791, những quý tộc ngoan cố và những vị giám mục tự ý lưu vong bên kia bờ sông Rhine đã đe doạ sẽ áp đặt lại chế độ cũ qua bạo lực và bằng lực
lượng vũ trang.
Tuy vậy các lãnh đạo HĐCMQG cũng cảnh giác tối đa những vấn đề này. Mặc
dù họ không bao giờ có ý định tái thiết lập các quyền của giới quý tộc hay hủy
bỏ lệnh cải tổ giáo hội Công Giáo, họ cũng đã có nỗ lực để ủng hộ sự bao dung,
thành lập những điều khoản dành riêng cho những giáo sĩ không chấp nhận cải tổ
tôn giáo và cố gắng giải quyết các tranh chấp với giới quý tộc và các giáo sĩ
bướng bỉnh qua một khuôn mẫu trật tự của hệ thống toà án thông thường. HĐCMQG cũng
nhanh chóng thiết lập một loạt các cơ cấu hành pháp và tư pháp mới. Vào tháng Sáu
1791, hầu hết những cơ cấu này đã hoàn chỉnh và hoạt động bình thường, và có thể
nói rằng, mặc dù không có nghĩa là loại trừ hết, nhưng chúng đã giảm bớt đáng kể
sự bất ổn chính trị và xã hội tại các vùng miền và kiềm chế được sự giảm sút trong việc tuân thủ dân sự. Hơn nữa,
HĐCMQG có thể tiếp tục duy trì được những cảm tình sâu đậm về sự ủng hộ cho chế
độ mới từ đám thường dân nam nữ, không chỉ tại thủ đô Paris, mà trong các cộng
đồng to nhỏ trên cả nước. Phản ứng của các
công dân tại Varennes trong cuộc khủng hoảng tháng Sáu là một trường hợp điển hình.
Vào mùa xuân 1791, các đại biểu đã hy vọng rằng với Hiến Pháp đã hoàn
thành và một chế độ toàn thời mới được thiết lập, đã đến lúc giai đoạn Cách Mạng cần kết thúc. Và không
có lý nào mà chế độ quân chủ lập hiến không thể hoạt động tốt và chắc chắn cuối
cùng nó sẽ mang lại sự ổn định cho đất nước. Không có lý nào mà cái thời kỳ bạo
lực và khủng bố do nhà nước hỗ trợ không thể tránh khỏi nếu như chính nhà vua,
nhân vật then chốt của hệ thống mới chịu ủng hộ hoàn toàn với cả tấm lòng. Vào cái đầu tháng Sáu đó, đa số người dân Pháp
đã nghĩ rằng điều đó có thể thành tựu. Đa số người dân Pháp, đặc biệt bên ngoài
Paris, tiếp tục tin tưởng rằng vị “công dân vua” của họ đã công nhận Cách Mạng.
Họ tiếp tục mường tượng vua Louis như khuôn mặt của người cha chung mà từ đó chủ
quyền quốc gia tụ họp lại.
Nhưng với sự lựa chọn trốn khỏi Paris trong lúc dầu sôi lửa bỏng ấy,
khi Hiến Pháp ở giai đoạn sắp sửa hoàn tất, và qua sự phủ nhận lời thề trang trọng
duy trì Cách Mạng của ông, nhà vua đã cộng tác vào sự bất ổn của quốc gia và của
xã hội. Trong ngắn hạn, hành động của vua gây nên một hậu quả chấn thương sâu đậm
đến toàn thể dân chúng. Một làn sóng vĩ đại của cảm xúc quét qua khắp đất nước,
những cảm xúc đủ loại từ nỗi lo lắng vô cớ tới sự bùng nổ bạo lực qua tới phản ứng
hoảng loạn có tính dây chuyền về các cuộc xâm lăng lấn chiếm. Sau đó các nhà ái
quốc tự kiềm chế và cố hết sức mình để chuẩn bị cho chiến tranh mà họ dự đoán
không thể tránh được. Nhưng cuộc trốn chạy của nhà vua cũng khởi đầu
cho một sự đánh giá lại toàn bộ nền chính trị quốc gia. Trong vòng vài ngày sau
khi nhận được tin tức, mọi người nhận ra rằng nhà vua không bị bắt cóc mà do chính
ông tự ý trốn đi. Đối với rất nhiều người, cú sốc này quá tàn nhẫn. Họ vẫn luôn
mường tượng nhà vua là một người cha tốt lành, và bây giờ họ phải trải nghiệm một
cảm giác bị bỏ rơi và bị phản bội nặng nề.
Trong ngôn ngữ được thốt ra trong sự giận dữ và cay nghiệt, Louis bị coi
là lẻ lừa dối, hèn nhát, phản bội và độc tài.
Phản ứng của họ đặc biệt dữ dội tại Paris nơi câu lạc bộ Cordeliers và mạng
lưới các hội thân hữu anh em nhanh chóng phát động một phong trào quần chúng đòi
truất phế nhà vua và tẩy chay chế độ quân chủ. Những thỉnh nguyện thư cứ tiếp nối,
các cuộc diễu hành, xuống đường biểu tình cấu tạo thành một thời khắc lịch sử của
chủ nghĩa cấp tiến của quần chúng Paris và sự xuất hiện của nhóm “Sans-Culottes”
như một lực lượng chính trị. Nhưng trong
nhiều khu vực khác trên đất nước, trong suốt giai đoạn ba tuần lễ bất định và bất an khi HĐCMQG chọn vị thế đứng ngoài việc phán xét công cộng, đi
xa hơn những gì các đại biểu có thể tưởng tượng là một nhóm thiểu số dân chúng đã phản ánh nghiêm trọng về khả năng truất phế
nhà vua hiện thời và ngay cả khả năng xây dựng một nền cộng hòa.
Cuộc chạy trốn của vua cũng làm vững mạnh thêm những tranh luận của những
người bám lấy một quan điểm về thuyết âm mưu của thế giới. Khi HĐCMQG đào sâu vào
câu chuyện, nó càng trở nên rõ rệt rằng một
kế hoạch toàn diện đã được tiến hành trong nhiều tháng, có liên quan đến rất
nhiều người tại Paris, ở trong quân đội, trong số đã di cư qua Đức và cũng kéo
theo một khuôn mẫu lừa gạt đậm nét của chính Louis. Kể từ lúc Cách Mạng bắt đầu,
chưa hề có một chứng cớ nào sâu xa hơn là cái thực tế của một âm mưu lớn lao ở
trong các tầng lớp cao cấp nhất. Hầu như
khắp mọi nơi trên đất nước, các quý tộc và giáo sĩ ngoan cố đã bị tình nghi trước
cơn khủng hoảng, lúc này họ trở thành đối tượng bị bất tín nhiệm cực độ. Những mối nghi ngờ phổ
biến càng tăng cường độ bởi những làn sóng di dân mới của giới quý tộc với số
lượng đông đảo gây ra bởi cuộc chạy trốn của nhà vua khi họ vượt biên giới và
tham gia vào đoàn quân phản Cách Mạng.
Hơn bao giờ hết, các nhà lãnh đạo Cách Mạng đã quốc tế hoá cái nhận thức
hoang tưởng này. Tại Paris, các thành viên
của phe cánh Feuillant đã không chỉ tình
nghi các giáo sĩ ngoan cố và các nhà quý tộc đã di tản, mà còn cả những nhà trí
thức và các nhóm quần chúng muốn đẩy mạnh
cho một nền dân chủ tốt hơn. Nắm giữ cái lý luận về tính thiết thực, cái
nhu cầu cứu lấy Cách Mạng bằng mọi giá từ tay kẻ thù, cho dù có thực hay chỉ là
kẻ thù tưởng tượng, mà theo họ lúc này dường như đang đe doạ họ, các nhà lãnh đạo
ái quốc sẵn sàng vi phạm các luật lệ và “quyền con người” mà họ chỉ vừa mới tuyên
bố. Lần đầu tiên trong đời, họ vượt qua
mức độ bạo động được nhà nước cho phép để cổ võ mạnh mẽ cho sự đàn áp vũ trang
cuộc xuống đường tại Champ de Mars. Sau đó, cả hai nơi Paris và các vùng tỉnh lỵ,
toàn thể công dân đủ loại bị bao vây mà không hề có bất cứ cố gắng nào để xác định
về tội phạm hay trách nhiệm cá nhân. Tự do báo chí, tự do hội họp, quyền phải cho
người bị bắt ra toà xem xét có bị giam
giữ hay không (habeas corpus), diễn tiến hạn định toà án, các quyền đã được bảo
đảm trong Hiến Pháp, tất cả đều bị gạt qua một bên nhân danh lợi ích lớn lao nhất
là bảo tồn nhà nước Cách Mạng. Trong cái suy nghĩ này, những tuần lễ theo sau
cuộc chạy trốn của vua tới Varennes đánh dấu một dự đoán, một biểu hiện trước về
cả hai mặt tâm lý và phương thức khủng bố.
Biến cố tìm cách chạy trốn Cách Mạng của vua Louis, tự nó không gây ra
sự lan rộng lớn lao về việc bạo hành được nhà nước bảo trợ trong thời điểm
1793-1794. Vào thời điểm mùa hè 1791 vẫn chưa có Ủy Ban An Ninh Công Cộng. chưa
có toà án Cách Mạng hay máy chém. Chỉ có một số nhỏ người mất mạng trong suốt
cuộc khủng hoảng này. Và chiến tranh mà mọi người từng lo sợ đã không sớm xảy
ra như họ nghĩ. Vào cuối tháng Tám, HĐCMQG đã cố tự giác chấm dứt tình trạng khẩn
cấp để trở lại trạng thái pháp luật bình thường. Tuy vậy chỉ với biến cố đơn lẻ trốn chạy của vua tới
Varennes này, và bằng những phân chia và âm vang của nó đã ảnh hưởng sâu đậm đến
tình trạng chính trị và xã hội nước Pháp. Cho dù tốt hơn hay xấu đi, điều đó cũng
giúp đặt đất nước vào một quỹ đạo mới đầy nguy hiểm tiến tới tương lai.
Hết
Hoàn tất dịch thuật ngày 25 tháng Bẩy năm 2017
Trôi theo mùa hè_10
Chương 10
Lần đầu lần cuối
Khi đang
ngồi trên bao lơn của hí viện có tên Tân Thập Tự Đế, anh chợt nhìn thấy Galina.
Thật là một cú sốc, không tin vào mắt mình đến nỗi anh nghĩ mình đang bị ảo tưởng do một loạt những công việc
đổi phiên quá dài ở trạm điện. Anh nhìn qua bên cạnh sân khấu: Số Chín, và rồi
cúi xuống đọc tờ chương trình: Đó là Olga,nàng Công chúa Kỵ Sĩ
Cốt Sách. Nhìn lên sân khấu: dưới bộ trang phục gồm cái áo hai màu vàng trắng và
chiếc váy cuốn phồng rủ xuống ngang đầu gối cùng đôi giày cao gót màu đỏ, đó chính là Galina của thời thơ ấu.
Trôi theo mùa hè_9
Chương 9
Ông Barshinskey bỏ đi đến tám ngày, và khi ông trở về không có Galina, cũng chẳng có cây vĩ cầm.Mỗi ngày tôi đều chờ đợi ông. Bất cứ giây phút nào không phải làm việc , tôi đều quanh quẩn ở đầu đường Eastbourne, nhìn vào từng điểm nhỏ di động từ xa mong ngóng nó lớn dần trở thành một người đàn ông cao lớn với chùm hoa cài trên mũ. Tôi trông đợi ông vô cùng, bởi tôi cần nói với ông điều tôi đã làm.
Vào ngày thứ tám, kỳ tích
xuất hiện. Một chấm đen nhỏ đang tiến tới, mỗi lúc mỗi lớn lên , và khi thấy đó
là ai, tôi bắt đầu chạy như bay tới.
- Bác Barshinskey! Bác
Barshinskey! Bác đã trở về.
Trôi theo mùa hè_8
Chương 8
Khi tôi tới nhà xứ buổi sáng hôm sau, vào lúc
bảy giờ thay vì bảy giờ rưỡi, để thấy bà đầu bếp đang ở trong một tình huống run rẩy, phân vân, hỗn loạn. Phòng rửa chén chất đầy chén đĩa chưa rửa từ
tối hôm trước, và bà đầu bếp vẫn còn đang loay hoay với những khay trà cho bữa điểm
tâm mà đáng lẽ chúng đã phải sẵn sàng để bưng lên rồi.
- Họ đang rung chuông hỏi bữa
ăn sáng kìa. Và cả bà Gallagher nữa. Bà ấy
ngồi canh ở trong phòng ông ta suốt đêm qua. Còn nó thì bỏ đi đâu mất. Nó
bỏ đi mà không rửa ráy đồ dùng tối qua, sáng nay cũng chẳng thèm dậy đốt lửa lò
nữa. Bây giờ cô bắt đầu rửa mấy cái bình
dơ đó. À không, coi mấy bình nước đã sôi chưa, rót vào mấy bình trà này. Cứ để
lò tiếp tục nấu đi, họ cũng đang cần nước nóng để tắm rửa. Mình ta làm không xuể.
- Bà có muốn cháu mang mấy bình
nước này lên không bà Puddingoyle?
Trôi theo mùa hè_7
Chương 7
Cái ranh giới giữa người khá giả và kẻ thật nghèo mới mỏng manh làm sao. Cho tới
thời gian đó, gia đình Willoughbys chúng tôi ,có kẻ ganh ghét, có người thán phục,
có được tiếng là những vị ân nhân nho nhỏ của người nghèo. Nhưng tai nạn xảy đến
cho bố đã mang lại một sự thay đổi về những may mắn của chúng tôi đến nỗi, mặc dù
không xuống dốc tới mức bần cùng quá như gia đình Barshinskey, những ngày tài chánh sung túc dư dả đã qua.
Điều ấy không làm tôi bận tâm
lắm, bởi tôi không có trách nhiệm trong việc điều chỉnh tình trạng tài chánh
gia đình . Cứ theo ý tôi lúc đó thì bên cạnh sự kiện là bố đã thoát chết ,mọi sự đều nhạt nhoà, trở thành không quan trọng .
Trôi theo mùa hè_6
Chương
6
Tai nạn nghề nghiệp
Tai nạn nghề nghiệp
Một ngày thứ Bảy tháng Tám, khi đang làm việc tại nông trại Hayward, tôi nghe
tiếng gào thét khủng khiếp của bố vang lại
từ phía chuồng bò. Bà Hayward và tôi nhìn nhau, đoạn tôi buông thùng nước xuống
, cắm cổ chạy thật nhanh tới. Xưa nay bố
chưa bao giờ gào thét cả.
Cái chuồng bò ở ngay phía bên kia sân . Muốn nhìn thấy bên trong nó, phải trèo lên đứng
trên những cái thùng lớn dựng sát tường. Tôi
đã leo lên trên đó trước cả khi nghĩ cách làm sao leo lên được và trèo
qua tường trước khi bà Hayward có thể kéo tôi xuống.
Bố tôi nằm ở trong cái máng
đựng nước hoàn toàn bất động. Con bò đực với cái lưng gù tổ bố đứng trên người ông.
Nó cào cấu mặt đất một hồi rồi đạp nát cái gàu nước mà bố chắc đã đánh rơi.
Trôi theo mùa hè_5
Chương 5
Một ngày lễ hội
Nhiều năm sau, Daisy May cho tôi biết đỉnh điểm của đời cô chính là ngày
lễ đăng quang của vua Edward VII. Tôi cảm
thấy vui hơn khi cô nói thế và rồi tôi bắt
đầu nhớ lại. Tôi nhớ rằng khắp nơi đầy
hoa anh túc, những cánh đồng ánh lên màu vàng
tươi và đỏ rực, nơi chúng đắm mình trong đám ngũ cốc, và dọc theo hai bên bờ những con kinh được bao phủ
bởi ánh lửa bập bùng làm cho cái
nón của bà Barshinskey như mịt mù trong
khói.
Tôi nhớ vào một buổi sáng, khi nhìn ra từ
khung cửa sổ trong phòng ngủ, cây mận trong vườn dầy đặc những con chim hồng tước,
phải đến ba bốn chục con. Tôi lại nhớ đến cánh đồng đối diện khu nhà thờ được dựng
lên một cái lọng che với những chiếc bàn dài kê trên giá ngựa được bao phủ khăn bàn bằng giấy trắng tinh và tất cả phụ nữ trong làng đang xếp
ra những chai nước chanh. Tôi cũng nhớ lại đã vui sướng như thế nào trong buổi sáng tháng Tám đó. Cái
cảm giác có một điều tuyệt vời sắp đến, và cho đến cuối ngày, khi điều tuyệt vời đã xảy đến, tôi nhận ra rằng cái ngày nhà vua
đăng quang này có thể cũng là đỉnh cao của
đời tôi.
.(Đọc tiếp)
Trôi theo mùa hè_4
Chương 4
Tại
sao tôi cần một thời gian thật lâu để hiểu
biết hết về con người của ông Barshinskey?
Có nhiều lý do, một số rất thực tiễn , chẳng hạn như việc tôi luôn luôn đã vào
giuờng ngủ trước khi ông say rượu loạng choạng đi về nhà từ quán ba Con Chồn. số khác lại chẳng thực tế tí nào,
như chuyện tôi cố tình không muốn biết bất cứ gì có thể phá huỷ cái (hình tượng)
vinh quang của ông.
Có một buổi sáng, Daisy May
đến trường với một vết bầm trên mặt. Lần khác lại chính là bà mẹ cô cũng bị bầm
như thế. Daisy May là người bạn thân nhất, thế nhưng tôi đã không hỏi có chuyện
gì xảy ra, bởi e sợ phải nghe về một cái gì khủng khiếp làm cho tôi giả bộ như không thấy vết bầm tím
đó.
Trôi theo mùa hè_3
Chương 3
Nhiệm vụ khó khăn
Sáng hôm sau, dù là ngày dọn dẹp
lau chùi nhà cửa, mẹ vẫn bắt tay vào việc. Cái nồi nấu nước cũ được đưa qua nhà
Barshinskeys, hai tấm trải giường cũ nhưng đã được sửa lại đẹp đẽ, chiếc ghế dựa
của bà ngoại để lại,hai cái giường xếp dùng đi chơi cắm trại và hai tấm chăn nâu,
một bao khoai tây, một cây bắp cải bự bố
mới cắt từ ngoài vườn rau vào.
Khi Daisy May và tôi trở về
nhà từ trường học vào giờ ăn trưa, bà mẹ
cô bé đã
bước ra khỏi giường, gọn gàng trong bộ đồ mùa hè của mẹ và đang xếp chén
đĩa lên bàn ăn mà tôi nhận ra chúng từ ở
trong nhà kho của chúng tôi. Chùi rửa sạch
sẽ, lại được che chắn với một mảnh màn cũ, nó mang lại cho cái bếp của căn nhà
‘tổ cú’ một quang cảnh lạ mắt: trông tương tự như (nhà bếp) của gia đình chúng
tôi.
Trôi theo mùa hè_2
Chương 2
Thứ Sáu là ngày thu dọn giường chiếu. Ngay sau khi Edwin đã tắm rửa
xong ở phòng tắm giặt, mẹ
lên phòng chị em tôi , trên tay ôm
theo đống khăn trải giường sạch sẽ.
- Thức dậy mau nào, hai cô! Edwin đã rửa mặt xong rồi. Nên nhớ
hôm nay còn phải làm giường trước khi đến trường.
Trôi theo mùa hè_1
TRÔI THEO MÙA HÈ
Description
“Trôi theo mùa hè”, câu chuyện của hai gia đình
với căn nguyên hoàn toàn khác biệt: cội nguồn, văn hóa, phong tục; mối liên hệ
kỳ lạ giữa 2 lối sống, một gia đình Anh truyền thống và một là sự pha trộn giữa hai dòng
máu Anh - Nga , xứ sở lạnh lẽo khổng lồ.
Vì sự ngẫu nhiên nào đó, họ bỗng dưng quện lấy nhau, ràng buộc vào nhau từ một
mùa hè định mệnh. Những hoạt cảnh vui buồn lẫn lộn của hai gia đình qua biến
chuyển của thời gian bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ hai mươi trải dài
trong suốt và sau cuộc Cách mạng Bôn sê vích tại Nga mang đến những hệ
luỵ phức tạp. Câu chuyện cũng kéo dài qua khoảng không gian bao la: từ một làng quê nước Anh nhỏ bé đến những thành phố lớn và thảo nguyên bát ngát
của đất nước khổng lồ Nga được làm nền cho những quan hệ của đám con của hai nhà
từ thời thơ ấu , và theo năm tháng dẫn đến các câu chuyện tình éo le ngang trái, vừa bi thảm vừa hạnh phúc của họ. Nguyên tác tiếng Anh “The Summer of the Barshinskeys” của Dianne
Pearson, nữ tác giả người Anh, sinh 1931, hiện đang sinh sống tại London. (Xem tiếp)
Nhân vật thế giới
Hai mươi năm sau ngày bức tường Berlin sụp đổ, Mikhail Gorbachev âm thầm kỷ niệm biến cố này ở phương Tây, cố tránh thật xa khỏi Moscow . Dù vậy, ở cả hai nơi ấy, danh tiếng của ông lại nằm ngay trong cái sự thầt bại của ông trong việc muốn đổi mới một hệ thống chính trị mà ông hằng thực sự tin tưởng, lúc nó đang trong cơn hấp hối....( đọc tiếp...)
Chọn lựa nào cho Liên Hiệp Quốc?
Chuyện bê bối của chương trình “đổi dầu lấy thực phẩm” chỉ bị đưa ra ánh sáng vào ngày 25 tháng Giêng năm 2004, khi một nhật báo Iraq có tên Al Mada (Bình Minh) đã khuấy động thế giới qua việc đăng tải trên báo một danh sách bí mật mà Saddam Hussein dùng để theo dấu những kẻ đã hối lộ hắn. Tài liệu này là một trong số nhiều thứ đã được tìm thấy sau cuộc đánh chiếm của Mỹ năm 2003. Trong phạm vi LHQ, chúng tôi đã biết tới cái trò gian lận này qua những tin đồn thổi liên tục và rồi sau đó được xác định bằng các công văn giấy tờ riêng Thí dụ, một số nhà thầu dám liều lĩnh đến mức bao gồm một khoản 10 % tiền phụ trội trong mẫu giao dịch trao đổi cho việc xuất cảng hàng hoá của họ vào Iraq
Subscribe to:
Posts (Atom)