Showing posts with label 7. Show all posts
Showing posts with label 7. Show all posts

Cuộc Cách Mạng Pháp 1789-1799

                                                             by Peter McPhee

Chương 7:  Sự khủng bố: Phòng vệ hay ngạo mạn Cách Mạng?

 Mục đích cốt lõi của sự khủng bố là thiết lập một sự khẩn cấp và những biện pháp hà khắc cần thiết tại thời điểm khủng hoảng quân sự. Vào cuối năm 1793, sự đe dọa của cuộc nội chiến và ngoại xâm ít nhất cũng đã chống cự được. Tuy nhiên, những nghị quyết được Nghị Viện và Ủy Ban Công An thông qua đã vượt quá khỏi sự phòng vệ quốc gia và  để lộ ra một tầm nhìn Jacobins về một xã hội hồi sinh mang  giá trị  vĩ đại của thời Khai Sáng và của cuộc Cách Mạng. Thí dụ, điều này được tạo ra bởi một hệ thống giáo dục thế tục và Cộng Hoà và một chương trình  cấp quốc gia về an sinh xã hội.
Chính sách giáo dục Jacobin, đặc biệt bộ luật Bouquier ngày 19 tháng 12 năm 1793, đã dự liệu một hệ thống giáo dục miễn phí và cưỡng bách đối với tất cả trẻ em từ 6 đến 13 tuổi với một chương trình học nhấn mạnh đến lòng yêu nước và đạo đức cộng hoà, thống nhất ngôn ngữ, đơn giản hoá tiếng Pháp chánh thức, các hoạt động về thể lực, học chuyên ngành và quan sát và một vai trò cho nhà trường trong các lễ hội dân sự. Bouqier và ủy ban của ông đã không có thời gian cho thái độ thư giãn tới sự chỉ dẫn được cho phép bởi các linh mục quản xứ dưới thời chế độ cũ.
 Các cha mẹ, người giám hộ và người được ủy thác đã trễ nải trong việc ghi danh cho con em sẽ bị phạt trong lần đầu với một số tiền phạt tương đương một phần tư tiền thuế của họ và lần thứ hai sẽ bị mất quyền công dân trong 10 năm.
Những người trẻ sắp sửa vào lứa tuổi 20 mà chưa học một môn khoa học, nghệ thuật hay mậu dịch hữu dụng nào cho xã hội cũng sẽ bị tước đoạt quyền công dân trong 10 năm.
Sự suy sụp của nền giáo dục sơ đẳng do Giáo Hội cung cấp dưới chế độ cũ đã làm tăng tốc sự đòi hỏi có những chất liệu đọc sách mới: chừng 700 đầu sách mới được sản xuất trong suốt thập niên Cách Mạng, với 41% trong  thời kỳ 1793-1794. Trong nửa năm đầu 1794, 5 ấn bản “Sưu tập những hành vi dân sự và anh hùng của Cách Mạng Pháp”. Ấn bản thứ ba in tới 150,000 tập, đã được gửi đến các trường học để thay thế Giáo lý Công Giáo. Tuy nhiên, chính quyền Jacobins  không bao giờ có thời gian hay tiền bạc để thực hiện chính sách giáo gục của họ, chưa nói đến việc huấn luyện các thày cô giáo để thay thế các linh mục và đã không có nhiều trẻ em đã đến trường trong thời kỳ khủng bố.. Thí dụ, tại thành phố Clermont-Ferrand, chỉ có 128 học sinh đến trường trên dân số 20,000 người.
Những ép buộc  về lý do và sự tái sinh đã buộc Quốc Hội Nghị Viện chấp nhận các đề xuất cho việc thay đổi toàn diện về các hệ thống đo lường về trọng lượng, khoảng cách và khối lượng. Các hệ thống trước bị phê phán là sai sót, không hợp lý và hủ bại vì nguốn gốc của chúng dưới màn khói sương mờ mịt của thời chế độ cũ. Một hệ thống thập phân đồng nhất về trọng lượng và đo lường được Hội Nghị loan báo ngàý tháng Tám 1793 có lẽ là” một trong những lợi ích to lớn nhất được mang đến cho mọi công dân Pháp.”  Những “nghệ nhân” của Học Viện Khoa Học sẽ chịu trách nhiệm cho việc thiết kế và sự chính xác của sự đo lường, trong khi “các hướng dẫn về việc đo lường mới và  sự liên hệ của nó đến cách đo lường cũ được dùng rộng rãi nhất sẽ được xác định vào trong sách toán số học giáo khoa sơ lược  sẽ được phát hành cho các trường học nhà nước. Những đo lường mới có lẽ thành công hơn các trường tiểu học của chính quyền Cộng Hòa.
Hiến Pháp 1793 đã làm một cam kết chưa có tiền lệ đối với các quyền xã hội và Quốc Hội Nghị Viện đã có nhiều biện pháp để tăng thêm quyền hạn của trẻ em: vào ngày 4 tháng Bẩy 1793, trẻ em bị bỏ rơi trở nên trách nhiệm của nhà nước và vào 2 tháng 11 năm 1793, trẻ em sinh ngoại hôn được bảo đảm đầy đủ các quyền thừa kế. Về chính sách giáo dục, sự cam kết xóa bỏ nghèo đói của chính quyền Jacobin bị chìm lỉm vì những đòi hỏi về tài chánh cho chiến tranh và thiếu hụt thì giờ.  Dự luật Saint-Just trong tháng Hai và Ba 1794 với đề nghị xử dụng tài sản của những kẻ bị tình nghi để đền bù cho người nghèo và chương trình nhà nước về an sinh xã hội loan báo ngày 11 tháng Năm 1794 chỉ được thực hiện một cách chật vật.
Trong suốt 18 tháng kể từ khi lật đổ chế độ quân chủ vào tháng Tám 1792 tới đầu năm 1794, một sự phối hợp các cải tổ cấp tiến của Jacobin  như  sự khởi xướng quần chúng phổ thông đã tạo nên một lực lượng  phi thường cho sự hồi sinh lý thuyết cộng hoà.  Đây là một trong những thời kỳ hiếm hoi trong lịch sử khi số lượng khổng lồ người dân đã hành xử dường như họ đã tái tạo thế giới, một thời kỳ của “Cách Mạng Văn Hoá.” Sự cảm hứng của nó đến từ những hình ảnh của các đức tính Hy Lạp và La Mã cổ xưa, trong đó tầng lớp Jacobins trung lưu đã được học hỏi, và từ sự thực hành của số lượng lớn lao người dân lao động tại thành thị và thôn quê sống qua một cuộc cách mạng cấp tiến đang bị bủa vây. Chính sách của Jacobins và hành động quần chúng phổ thông trùng hợp ngẫu nhiên qua việc xử dụng chính thức và tự phát các lễ hội, nhạc kịch, bài ca, biểu ngữ, sự trang trí, trang phục và các trò giải trí. Tuy nhiên, thường có một sự căng thẳng giữa sự ban hành mang biểu hiện phổ thông về sự thay đổi toàn diện. Sự hủy hoại các tượng đài tôn giáo, tranh vẽ và những dấu hiệu khác của chế độ cũ và  sự  quan tâm của Jacobin về cái mà Grégoire gọi là “phá hoại” dẫn tới các điều luật bảo vệ vào tháng Chín 1792. Điều này trùng hợp với sự thiết lập các thư viện, văn khố lưu trữ và bảo tàng viện công cộng quốc gia và tỉnh lỵ vào cuối năm 1793. Ngược lại, chính quyền Jacobins đã không có thời gian để thực thi những kế hoạch quy mô của họ cho những biểu tượng Cách Mạng lớn lao để thay thế các tượng đài chế độ cũ.
Vị trí của Giáo Hoàng và các giáo sĩ cố chấp không tuyên thệ trong cuộc xung đột nội bộ đầy cay đắng và đẫm máu ở phía Đông và trong các trận chiến xẩy ra trên đất Pháp đã phát sinh một sự đáp trả giận dữ mà nó kêu  gọi giới Công Giáo, và có lẽ cả khối Thiên Chuá Giáo phải đặt câu hỏi. Vào ngày 5 tháng Mười, Nghị Viện đã khai trương một bộ lịch “Cộng Hòa” mới. Sự tuyên bố cùa chính quyền Cộng Hòa đã quay ngược về dĩ vãng với ngày 21 tháng Chín 1792 được gọi là  ngày đầu tiên của năm thứ nhất của kỷ nguyên Cộng Hòa. Bộ lịch mới phối hợp sự hợp lý của phương pháp đo lường thập phân (với 12 tháng có đủ 30 ngày, mỗi tháng gồm ba thập tuần (tuần lễ có 10 ngày) và phủ nhận hoàn toàn bộ lịch Gregorian. Những ngày lễ thánh và các lễ hội tôn giáo được thay thế bằng các tên của cây cối, thời tiết, các mùa, các vật dụng lao động và các đức tính. Bộ lịch được công nhận trong cả nước nhưng cùng hiện hữu một cách không êm đềm với nhịp điệu cũ của việc thờ phượng: các ngày Chúa Nhật và các phiên chợ hàng tuần.
Những lễ hội quần chúng biểu lộ sự thù ghét đối với Giáo Hội qua sự nhạo báng các linh mục và  đám người phản Cách Mạng. Tại Dormans, nơi mà vua Louis đã đi qua đi lại từ Varennes năm 1791, hình ảnh của vị thủ tướng Anh Quốc William Pitt được đặt ngược trên lưng một con lừa và diễu hành qua phố xá. Tại Tulle, có một buổi chôn cất một quan tài chứa đựng  các tàn dư của “dị đoan” và được đội vương miện có hai cái tai của con lừa và một cuốn sách lễ. Các tượng thánh thì bị đánh đòn.  Đặc biệt, các nghi thức ”chống Thiên Chúa Giáo”    một bầu khí lễ hội và thanh tẩy, thường xử dụng hình phạt “bước đi của những con lừa,” được dùng trong chế độ cũ để trách phạt những người vi phạm các quy tắc về hạnh kiểm của cộng đồng, nhưng lúc này là có ai đó hoá trang như một linh mục ngồi lộn ngược trên lưng lừa. Sáng kiến quần chúng, thỉnh thoảng do các “đại biểu đặc nhiệm” kích động, đóng cửa nhà thờ và ép các linh mục theo hiến pháp phải thoái vị và kết hôn như một dấu hiệu của lòng yêu nước.
Có đủ loại hình thức rộng rãi về những vụ thoái vị như vậy, đa dạng từ 12 tại vùng Alpes-Maritimes và  20 tại Lozère đến 498 tại Saône-et-Loire. Trong 21 tỉnh thành ở vùng Đông Nam, còn lên tới 4500. Nói chung, khoảng 20,000 linh mục từ chức, trong đó có 5000 đã kết hôn. Tại vùng Allier, chỉ có 58 trong số 426 linh mục không từ chức, và toàn thể đất nước có lẽ chỉ  có 150 giáo xứ trong tổng số 40,000 đã còn cử hành thánh lễ vào mùa xuân 1794.  Một số giáo sĩ có thể có cảm giác giống như cựu linh mục Duffay, người đã viết cho Nghị Viện vào tháng Giêng 1794:
Tôi lắng nghe tiếng gọi của thiên nhiên và đã trao đổi sách cầu nguyện cũ của tôi cho một người phụ nữ Cộng Hoà trẻ. Vì tôi luôn luôn coi cuộc đời làm linh mục của tôi cũng vô dụng như một trò chơi. Tôi đã cho những bằng cấp Giáo Hội của tôi vào lò lửa. Bây giờ tôi lao động trong một nhà máy nơi mà, mặc dù không tránh khỏi sự mệt nhọc, tôi rất hạnh phúc nếu mồ hôi tôi đổ ra giúp tôi khỏi đói nghèo.’
Tuy nhiên, đối với nhiều vị linh mục khác và giáo dân trong xứ của họ, đã có những thời điểm nguy hiểm khi mà những hình thức cải tổ tôn giáo theo hiến pháp đã hầu như hoàn toàn sụp đổ.
 Cuộc Cách mạng văn hoá đã không được biểu lộ qua sách vở:  số lượng sách ấn hành vào năm 1794 chỉ có 371, so sánh với con số trên 1000  hàng năm thời tiền cách mạng, và trong 2 năm 1793-1794 chỉ có 36 tác phẩm văn chương được xuất bản. Một ngoại lệ là cuốn sách  nổi danh “Khế Ước Xã Hội” của Rousseau đã ấn hành qua 13 ấn bản trong khoảng 1792-1795, kể cả một ấn bản loại bỏ túi dành cho binh lính.  Tương tự, với những giới hạn ngày càng tăng về tự do báo chí sau sự tuyên bố chiến tranh và sự lật đổ chế độ quân chủ, số lượng báo chí mới tại Paris đã hạ giảm từ 134 năm 1792 xuống còn 78 trong năm 1793 và 66 vào năm sau đó. Thay vào đó, thời kỳ 1792-1794 là thời đại của thi ca chính trị: Có một đánh giá  rằng số lượng bài ca mới leo thang từ 116 năm 1789 lên 325 năm 1792, 590 năm 1793 và 701 trong năm 1794. Hầu hết chúng là những bài hát mau chóng bị quên lãng, cổ võ sự dũng cảm hay các bài ca nhạo báng hoàng gia…
Mặc dù hầu hết các vở kịch được viết trước năm 1789, chủ đề và các vai nhân vật trong đó được sửa lại theo đường lối Cách Mạng. Những vở kịch khác tiếp tục tạo nên sự hài hước qua việc chế nhạo Giáo Hội: Một trong những vở kịch phổ thông nhất tại Paris đã diễn tập từ 1792 đến 1794 là vở “Những khách viếng thăm” của Louis-Benoit Picard diễn tả hai tên vô lại say sưa đã tưởng lầm một tu viện là quán trọ. Vào tháng Giêng 1794, các hí viện được trợ cấp nếu họ đồng ý diễn mỗi tuần một đêm miễn phí. Hội họa cũng bị ảnh hưởng sâu đậm. Jacques-Louis David cũng góp phần vào trong việc mở mang cái thế giới hạn hẹp trước đây của các phòng triển lãm: Trong khi  63 hoạ sĩ    nhà điêu khắc  được mời để triển lãm 289 tác phẩm tại phòng triển lãm năm 1787, đến năm 1793 có đến 318 nhà nghệ thuãt trưng bày 1793 tác phẩm của họ. Chính quyền đã bỏ ra 442,000 livres  để làm các giải thưởng. David tự lao mình vào trong nỗ lực chiến tranh. Những bức tranh hí hoạ của ông châm biếm  việc phản cách mạng chỉ mang hiệu quả  tuyên truyền tương đương với những phác hoạ của Gilroy về  cảnh “ăn thịt người” của đám Sans-Culottes và con cái họ sung sướng nhai nuốt lòng ruột các giáo sĩ.
Việc vinh danh ba liệt sĩ hàng đầu của Các Mạng là Marat, Chalier và Lepelier được kèm theo với sự cử hành tôn  vinh vị thế anh hùng đối với Franҫois Bara và Joseph- Agricol Viala, 2 cậu bé 13 tuổi bị sát hại khi chiến đấu chống lại phản cách mạng. Có đề nghị rằng những đại lễ kỷ niệm 14 tháng Bẩy, 21 tháng Giêng và 21 tháng Chín nên được hỗ trợ bởi 36 lễ hội quốc gia, một lễ cho  mỗi tuần (tuần  10 ngày). Lễ hội quốc gia là những vấn đề phức tạp.  Thí dụ, vào ngày 10 tháng Tám 1973, kỷ niệm ngày lật đổ chế độ quân chủ được cử hành như ngày lễ đoàn kết và không thể phân chia của nền Cộng Hòa.  Những biểu hiệu của quân chủ bị đốt cháy tại các công viên trong thành phố Paris. Sau đó, trong một buổi picnic ăn mừng vĩ đại của Cộng Hoà với bánh mì và cá, các đại biểu của Nghị Viện đã uống một chất lỏng biểu hiệu cho sữa tự do chảy ra từ bầu vú của một bức tượng nữ thần tự do.  Sau đó, từ trong bức tượng 3000 bồ câu được thả ra, mỗi con mang một biểu ngữ dưới chân với dòng chữ: “Chúng tôi có tự do. Hãy bắt chước chúng tôi.”  Các lễ hội được chính quyền tổ chức thật ngạo mạn trong việc nâng Cách Mạng lên với những lời hiệu triệu thiên nhiên.
4 năm với kinh nghiệm cách mạng, với những hy vọng vô biên, những hy sinh và những lo lắng, với cuộc sống trong cái văn hoá chính trị cách mạng đã nẩy sinh một tư tưởng khác biệt Sans-Culottes tại thành phố và các thị trấn. Đây có thể là một thế giới không có giới quý tộc, giáo sĩ, dân giàu có và sự đói nghèo:  Trong nơi chốn này sẽ nổi lên một nước Pháp tái sinh với các nghệ sĩ và những chủ nhân bé nhỏ được tưởng thưởng cho phẩm giá và sự hữu dụng từ trong công sức lao động của họ, sự thoát khỏi tôn giáo, sự khinh thường từ những người sinh ra ở tầng lớp thượng lưu và sự tranh đua của giới doanh gia. Trong những năm này, sự phô trương tập thể cũng trải qua cái mà  Nichel Vovelle gọi là “sự bùng nổ sáng tạo” như những sáng kiến quần chúng trong sự tổ chức các lễ hội và thiết kế lại những nghi lễ cổ xưa đan xen  với sự khuyến khích các buổi lễ kỷ niệm dân sự của Quốc Hội Nghị Viện. Thí dụ, khi tin tức về việc hành quyết vua Louis XVI hay chiến thắng quân sự lan tới,  cả làng túa ra ăn mừng ngay tức khắc. Việc ăn mừng tập thể phác hoạ theo biểu hiệu thời tiền cách mạng mà thường mang tính cách tôn giáo  thiên sai, và những sự thực hiện tập thể tại nơi làm việc gợi lên hình ảnh một xã hội mới.
 Ở tại các thành phố và thị trấn, các buổi hội họp của câu lạc bộ và hội đoàn thường rập khuôn theo các hình thức tôn giáo về việc tổ chức nhưng nội dung đi theo kinh nghiệm Cách Mạng. Các hội viên thường đội mũ đỏ hay mũ tự do để chứng tỏ họ không còn là nô lệ trong nhà bếp.  Kể từ cuối năm 1793, họ xử dụng kiểu mũ Phrygian hơi khác biệt một chút liên quan đến những nô lệ Hy Lạp trở nên phổ thông hơn. Các buổi họp thường bắt đầu với bài ca Marseillaise hay bài Ҫa ira và đọc các bức thư từ mặt trận gửi về, tiếp theo là sự bàn cãi về những lễ kỷ niệm sắp tới và những diễn tiến, quyên tiền, đóng góp tình yêu nước, tố giác các kẻ tình nghi và các bài diễn thuyết về các đức tính Cộng Hòa. Để thoát ra khỏi một thời sống xã hội trong cái ngôn từ của sự bất bình đẳng, họ đã tìm cách áp đặt việc xử dụng  thân thuộc  từ ngữ  “tu (mày, bạn?)” trong mọi cư xử xã hội (giống như trong  các buổi họp xã và đoàn thể), loại bỏ từ ngữ “vous” trước đó từng được đòi hỏi phải dùng cho xưng hô với cấp trên cũng như giới quý tộc nội tại. Trong ngôn ngữ của bản thỉnh nguyện thư ngày 31 tháng Mười gửi tới Quốc Hội Nghị Viện: “Từ giờ sẽ có ít niềm hãnh tiến, ít  sự phân biệt, ít cảm giác  bất bình, nhiều hơn sự thân thiện, một cảm giác tình anh em lớn lao hơn và kết quả có sự bình đẳng hơn.” Các chi bộ đoàn thể là một mô hình thu nhỏ của một chế độ Cộng Hòa duy nhất và không thể phân chia, phản ánh trong việc thực hành các thông cáo nơi mà các phiếu bầu và ý kiến được bày tỏ công khai và bằng lời nói. Một sự thực hành như vậy rõ ràng đối nghịch với những khái niệm của giới tư sản về các quyền sở hữu cá nhân và nền dân chủ đại diện cũng như sự áp đặt kiểm soát giá cả trái với định luật Laisser-faire.
Việc thực thi chủ quyền quần chúng trong bối cảnh chiến tranh và phản cách mạng đã phát sinh một dòng thác của tân chủ nghĩa và những thay đổi trong ý nghĩa của từ ngữ hiện hữu. Một nghiên cứu đã phác hoạ ra hơn 1350 các phát minh như thế trong cái thập niên sau 1789, và hầu hết chúng bắt nguồn trong khoảng 1792-1794. Cái học thuyết mới nổi tiếng nhất, dĩ nhiên là “Sans-Culottes”. Những danh hiệu chính trị khác rút ra từ các cá nhân thường chết yểu như : “chủ nghĩa Robespierre,  chủ nghĩa Pite hay chủ nghĩa Marat.” Sự phát triển của các câu lạc bộ quần chúng được gọi là “cơn sốt câu lạc bộ”. Những người thường xuyên đến đó được gọi là “Câu lạc bộ viên”. Vài danh từ mới  biểu lộ sự chế nhạo một cách thù ghét của những nạn nhân thời khủng bố, những người “đã phải uống chén đắng” và là chủ thể của “việc đi mò tôm”, trong cái sự liên hệ đến việc dìm chết số lượng đông các linh mục tại Nantes. Những từ khác nhắm đến những sự việc tương tự của những người phe Jacobins được cho là đã đồng ý  trong vụ thảm sát tháng Chín 1792 tại Paris như “những kẻ khát máu” hay “bọn sát nhân tháng Chín.”
 Một điều chắc chắn mà các nhà Cách Mạng cảm thấy tại thành phố cũng như thôn quê là họ đang sống trên cái tiền đồn của sự thay đổi xã hội được diễn tả trong những thay đổi tự phát về các tên tuổi cho chính các cộng đồng và cho các trẻ sơ sinh. Những người ủng hộ Cách Mạng: “Những người yêu nước” như họ thường được gọi, đã đánh dấu sự thù ghét của họ đối với thế giới cũ bằng cách cố xóa bỏ mọi vết tích của nó. Ngoại trừ các tên được quân đội Jacobins áp đặt sau khi đánh bại đám phản Cách Mạng, khoảng  3000 xã đã tự động xoá bỏ những gì mang ý nghĩa KiTô Giáo: St-Izague trở thành Vin-Bon,  St-Bonnet-Elvert thành Liberté-Bonnet-Rouge, St-Tropez và Montmartre thì thành Héraclé và Mont-Marat, trong khi Villedieu lấy tên La Carmagnole và Villeneuve-st-Georges đổi thành Villeneuve-la-Montagne.  Cũng như các nơi khác, trong khu quận La Rochelle, các ngôi làng có tên các vị thánh được đổi lại để xóa bỏ các dấu tích của Giáo Hội: St-Ouen thành Marat, St-Rogatien đổi thành Égalité, St-Soule thành Rousseau và St-Vivien thành Sans-Culottes. Cư dân của Montroy tự động xóa bỏ cái ý nghĩa quân vương của nó và yêu cầu được đổi thành Montagne. Tất cả các đường xá của La Rochelle được đặt tên lại, vinh danh các anh hùng như Benjamin Franklin hay Jean Calas.
Không thể nào đánh giá được có bao nhiêu cha mẹ đặt tên cách mạng cho con cái mới chào đời của họ trong những năm này: Thí dụ tại Poitiers, chỉ có 62 trong số 593 trẻ sơ sinh năm Cách Mạng thứ Hai được đặt tên theo các vị thánh theo cách của chế độ cũ.  Thay vào đó, chúng được đặt tên phản ánh những nguồn ngược lại gợi lên cảm hứng chính trị.  Một nghiên cứu  trên 430 tên được thừa nhận tại Seine-et-Marne chỉ ra rằng 55% rút ra từ thiên nhiên hay theo lịch mới: (Rose, Laurier, Floréal); 24%  theo các đức tính Cộng Hòa: (Liberté, Victoire, La Montagne); 12%  theo các tên cổ xưa (Brutus, Mucius, Scaedova) và 9% từ các vị anh hùng mới: (Le Peletier, Marat). Một cậu bé có tên Travail, một đứa khác được gọi là Fumier. Ở tại Hautes-Alpes, cha mẹ gia đình Lacau đặt cho con gái của họ tên Phytogynéantrope (tên Hy lạp cho một người phụ nữ chỉ sanh ra những đứa con trai dũng sĩ.)
Tuy nhiên, việc thực hiện xử dụng các tên cách mạng rất khác nhau trong cả nước, và trong bất cứ trường hợp nào đều khó khăn để nhận thấy một cách chính xác. Thí dụ,  trong những khu quận ngay mặt Nam Paris, tên “Rose” đếm được tới 226 trong số 783 tên đặt theo thiên nhiên trong năm thứ Hai của Cách Mạng, nhưng một sự lựa chọn như vậy có chú tâm vào chính trị như thế nào? Một số không làm cho chúng ta nghi ngờ, chẳng hạn một cậu bé tên Faisceau Pique Terreur ở tại Châlons-sur-Marne. Tại nhiều khu vực xa xôi, hiện tượng này thường ít xảy ra:  chỉ có 20% trong số 133 xã của khu vực Villefranche-en-Beaujolais có những tên gọi như vậy. Giữa các thành phố cũng có những khác biệt lớn lao như vậy: Vào 2 mùa Đông và Xuân năm 1794, ít nhất 60% trẻ em nhận được các tên Cách Mạng tại Marseilles, Montpellier, Nevers và Rouen, nhưng không hề có lấy một đứa nào tại Riom và ngay cả tại St-Étienne. Tại Rennes,  cái tên cách mạng đầu tiên có  từ rất sớm  khoảng tháng Tư 1791 (Citoyen Franҫais),  nhưng ngay cả tại thời điểm cao trào vào tháng Hai đến tháng Tám 1794, việc thực hiện cũng chỉ chiếm 1/10 số trẻ sơ sinh.
Sự nhiệt tình của hầu hết người dân tại Gabian cho Cách Mạng được phản ánh qua việc nhiều cha mẹ chọn lựa tên tuổi cho con cái họ rút ra từ thiên nhiên hơn từ các thánh: Trong thời 1792-1793, các vụ khai sinh đưọc đăng ký tại hội trường thị trấn. Tại La Rochelle cũng thế, cha mẹ biểu lộ giá trị của họ qua việc đặt tên cho con cái. Giữa 01 tháng Giêng 1793 và 21 tháng Chín 1794, 981 trẻ em ra đời với 135 được đặt tên Cách Mạng. Victoire và Egalité là 2 tên đặc biệt phổ thông, nhưng có những tên khác mang nhiều ý nghĩa mường tượng hơn: Décadi, Minerve, Bara, Humain, Ail, Carotte và Cresson.
 Các đạo quân Cách Mạng đã không thể chiến thắng, và cuộc nổi dậy tại Vendée cũng không thể mạnh mẽ đến như vậy nếu không có sự hỗ trợ tích cực của phụ nữ. Tại các trung tâm thành thị, sự suy sụp về lao động của phụ nữ  trong các kỹ nghệ xa xỉ, đặc biệt ngành ren và ngành phục vụ tại gia được lấp đầy một phần sự thoả mãn tạm thời các công việc, khi có nhiều ngàn đàn ông con trai ra mặt trận. Tại thị xã và vùng quê, công việc của phụ nữ quan trọng hơn bao giờ  trước đó trong việc gìn giữ gia đình lại với nhau, mặc dù trong những năm 1792- 1794, có lẽ cứ một trong mười gia đình đã bị kiệt lực vì người cha, chồng hay con trai tử trận hay bị thương.
Sự thù nghịch đối với những nguồn gốc căn bản về chủ quyền của chế độ cũ cũng không tránh khỏi việc đặt nghi vấn về vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội. Một số điều khoản của luật pháp được tạo ra để làm sống lại đời sống gia đình, cho đến nay được cho là tàn bạo và vô luân lý, giống như chính cái chế độ cũ.  Các tòa án gia đình được thành lập để giải quyết các xung đột gia đình, các hình phạt đánh đập vợ con được giới thiệu mà nó nặng gấp 2 lần việc tấn công đàn ông, và tuổi trưởng thành được giảm xuống từ 25 còn 21. Tuy nhiên, có sự nghi ngờ  là các khuôn mẫu về bạo lực của đàn ông có thay đổi hay không, mặc dù những cổ xúy của các nhà làm luật Cách Mạng cho một cuộc sống gia đình bình yên, hài hòa như là nền tảng của nền trật tự chính trị mới.
Điều được thay đổi là khả năng của phụ nữ có thể bảo vệ các quyền lợi của họ trong phạm vi gia đình. Luật ly dị được bỏ phiếu vào buổi họp cuối của Hội Đồng Lập Pháp ngày 20 tháng Chín 1792 đã cho phụ nữ những quyền hạn rộng rãi đánng kể trong việc rời bỏ một cuộc hôn nhân không hạnh phúc hay vô nghĩa: Đôi vợ chồng có thể đồng ý ly hôn vì mâu thuẫn với nhau hay bất cứ phía nào có thể khai mào việc ly dị trên căn cứ vắng mặt lâu dài hay đối xử tàn ác đối với người phối ngẫu. Chính các phụ nữ lao động là những người xử dụng  luật này hơn ai hết: Thí dụ,  tại Rouen, 76% các vụ ly dị do phụ nữ khởi xướng việc xúc tiến, 72% trong số họ thuộc ngành vải sợi có sự độc lập nào đó về kinh tế, không giống như các phụ nữ thôn quê. Trên toàn quốc có lẽ khoảng 30,000 vụ ly dị được quyết định dưới bộ luật này, đặc biệt tại các thị trấn và thành phố. Tại Paris có gần 6000 vụ trong khoảng 1793-1795.
Cứ trong 8 cuộc hôn nhân tại Rouen lại có một vụ ly dị do toà ra lịnh và một số lượng tương đương được giải quyết qua sự thương lượng trong gia đình. Mặc dù bạo hành là nguyên nhân thông thường, theo lời thuật của các phụ nữ, quyền hạn của đàn ông theo truyền thống thường làm nhục vợ con qua lạm dụng thể lực (được cho là điều chỉnh vừa phải trong chế độ cũ) có lẽ cần phải đặt nghi vấn trong mọi gia đình. Luật ly dị có thể thách thức những liên hệ gia đình ở một mức độ căn bản. Toà án gia đình tìm kiếm mối trung gian trong các vụ có tiềm năng ly dị, nhưng không phải lúc nào cũng thành công. Thí dụ, Jean-Baptiste Vilase, một thợ làm móng tay tại La Rochelle đã tố cáo Marie-Victoire Guyon vợ ông ta là “ngỗ nghịch và thiếu đạo đức.” Đối lại, bà ta tố cáo chồng “đối xử tồi tệ” và kiên quyết rằng họ có những cá tính không tương hợp nhau. Jean-Baptiste đã tha thứ cho bà vợ đã ăn nằm với một thợ làm móng tay khác ngay trước mặt con cái họ. Bà ta quay trở về với chồng nhưng kiên quyết sẽ không từ bỏ người đàn ông mà bà yêu thích kia. Bây giờ đến phiên Jean-Baptiste cố chấp và ông ta đã nộp đơn xin ly dị.  Tuy nhiên, khác với Rouen, chỉ có 34 vụ ly dị trong số 780 cuộc hôn nhân tại La Rochelle trong giai đoạn 1 tháng Giêng 1793 – 27 tháng Sáu 1795.
Một cuộc tranh luận quan trọng và nóng bỏng vào tháng Tám 1793 khi  phải đối đầu với câu hỏi về quyền lợi của người vợ đối với vai trò bình đẳng trong các quyết định liên quan đến tài sản gia đình. Trong khi Merlin de Douai lập luận rằng: “Phụ nữ thông thường thiếu khả năng quản trị và đàn ông, với cái siêu quyền lực tự nhiên đối với phụ nữ, phải bảo vệ vợ mình.” Ông ta đã bị Georges Couchon phản bác: “Phụ nữ được sanh ra cũng có nhiều khả năng như đàn ông. Nếu họ cho tới giờ chưa phô bày ra, đó không phải là lỗi của tạo hoá, mà là do các cơ chế trước đây của chúng ta.” Couchon có sự ủng hộ của Camille Desmoulins, người thú nhận rằng: “Trong việc ủng hộ ý kiến đó có sự cứu xét về chính trị rằng để làm cho phụ nữ yêu mến Cách Mạng cũng là một điều quan trọng.” Họ công nhận, nhưng điều luật không bao giờ được áp dụng đầy đủ.
Bản chất của lễ cử hành hôn nhân cũng thay đổi, giống như các nghi lễ rửa tội và an táng.  Lúc này,  viên thị trưởng xen vào các nghi thức này bằng một việc “đăng ký dân sự,” với linh mục giờ chỉ thi hành một lời chúc lành có thể chọn lựa hay không nếu quả thực nơi đó vẫn còn có linh mục nữa. Những luật lệ nghiêm khắc không được cử hành hôn phối trong các mùa Vọng, mùa Chay, các ngày thứ Sáu và Chúa Nhật giờ bị lơ là.  Thật sự cũng có những lý do tốt đẹp: sự miễn trừ trưng binh cho đàn ông có vợ. Đối với những cặp sống  “ngoại hôn”  muốn  làm đám cưới và đối với những người lập gia đình quá trẻ: so sánh với con số trung bình thường niên thời trước Cách Mạng là 240,000 cuộc hôn nhân, đã có trên 325,000 hàng năm trong cả 2 năm 1793 và 1794.
Mặc dù có sự khinh bỉ về tệ nạn dị đoan, phe cánh Jacobins cấp tiến tại thủ đô thường tỏ ra tự giác đạo đức, lên án điều mà họ diễn tả như những “luân lý lỏng lẻo” đánh mạnh vào sự suy đồi và tham nhũng của chế độ cũ. Ngày 2 tháng Mười 1793, Công Xã Paris đã ra nghị quyết rằng:
Nghiêm cấm mọi phụ nữ vô đạo đức diễu hành trên đường phố, dạo chơi trong công viên và khêu gợi sự dâm đãng truỵ lạc tại đó. Đại hội đồng kêu gọi sự giúp đỡ để thực thi và bảo tồn nghị định đến các thành viên Cộng Hòa, những người nghiêm khắc và yêu quý các luân lý tốt lành, các bậc cha mẹ trong gia đình. Đại hội đồng mời gọi các bô lão, trong vai trò đặc sứ của đạo đức, thấy được rằng những luân lý này không bị xúc phạm…”
Nghề đĩ điếm bị cấm đoán từ ngày 21 Nivôse II (10 tháng Giêng 1794) bị Công Xã coi như một sự hành nghề trong chế độ cũ và dù gì cũng  không cần thiết khi có đầy công việc trong kỹ nghệ chiến tranh. Tuy nhiên, nó vẫn tồn tại trong vai trò một nghề bí mật cho 20,000 gái trẻ tại Paris.
 Trong suốt cuộc Cách Mạng, có một hố sâu ngăn cách về giai cấp và chính trị giữa cá nhân những người biện hộ cho nữ quyền như Olympe de Gouges và Etta Palm, giờ đã chết hay bất tín nhiệm vì sự bảo thủ chính trị của họ và sự ủng hộ của đám Sans-Jupons (phe vô sản Không váy) cho sự sống còn và những mục tiêu quân sự của phong trào quần chúng như một khối nguyên vẹn. Vào tháng Năm 1793, Théroigne de Méricourt, người ủng hộ phe Girondins đã là đối tượng bị những người phụ nữ Jacobins đánh đập đến nỗi bà không bao giờ bình phục. Trong 5 tháng sau tháng Năm , những nữ công dân Cộng Hòa của Cách Mạng đó do Claire Lacombe và Pauline Léon dẫn đầu, đã bắc một nhịp cầu nối lại giữa nữ quyền và sự tồn tại chính trị qua việc tổ chức một một nhóm phụ nữ tự trị và vận động cho các quyền lợi của phụ nữ tại các văn phòng công cộng kể cả quyền mang vũ khí, trong khi  vẫn duy trì sự nối kết với phe cánh cấp tiến của nhóm Sans-Culottes: “the Enragé (những kẻ phẫn nộ).” Các quy định của nữ công dân được đọc: “Tất cả các thành viên của hiệp hội không gì khác hơn chính là một gia đình các chị em.” Một phái đoàn từ Droits de L’Homme Section (uỷ ban nhân quyền) đến thăm viếng đã khen ngợi hiệp hội:
“Hiệp hội của quý vị là một phần của toàn xã hội và không phải ở trong thành phần kém quan trọng nhất. Khái niệm tự do đã tìm thấy một trường học mới ở đây: các mẹ, vợ và con cái đến đây để học tập, khích lệ nhau trong việc thực thi các đạo đức xã hội. Quý vị đã đập tan cái mắt xích của thành kiến. Cái mắt xích đã quản thúc phụ nữ vào trong cái bầu không gian chật hẹp của gia đình, làm cho một nửa của mỗi cá nhân bị thụ động và bị cô lập không còn hiện hữu trong con người quý vị nữa.  Quý vị muốn chiếm lại vị trí của quý vị trong cái trật tự xã hội. Sự thờ ơ xúc phạm và làm nhục quý vị…”
Nhiều chi bộ tại thủ đô đã bắt đầu thu nhận phụ nữ vào trong các buổi họp của họ, với chi bộ Hommes de Libres và Panthéon đã công nhận đầy đủ quyền bỏ phiếu.  Những chi bộ khác có vẻ cẩn trọng: chi bộ Xã Hội Quần Chúng của Luxembourg thu nhận phụ nữ trên 21 tuổi và những con gái của họ trên 14 tuổi vào, nhưng giới hạn phụ nữ chỉ được chiếm 1/5 số hội viên.Tuy nhiên, Robespierre chẳng bao giờ để ý nhiều đến sự đấu tranh  mòn mỏi của các nữ công dân, trong nhật ký của ông có đoạn ngắn: Giải tán các phụ nữ Cộng Hoà cách mạng.
 Khi sự chỉ trích lên cao, Lacombe đương đầu với Nghị Viện ngày 8 tháng Mười 1793:
Giới tính của chúng ta chỉ sản xuất ra một nữ quái (Marie-Antoinette), trong khi trong 4 năm trời, chúng ta bị phản bội và ám sát bởi những con quái vật không có con nào có nam tính. Quyền lợi của chúng ta là quyền lợi của người dân và nếu chúng ta bị đàn áp, chúng ta sẽ biết làm cách nào kháng cự lại sự đàn áp.”
Tuy nhiên, trong khi các nữ công dân thu hút 300 phụ nữ vào các buổi họp của họ và tuyên bố con số ủng hộ tích cực lên tới 400 hay hơn nữa, thách thức của họ chìm nghỉm trong sự chống đối của chủ sạp tại chợ mà sự kiểm soát giá cả của họ đe doạ sự đói nghèo. Vào ngày 24 tháng Mười, một nhóm nữ công dân bị nhóm phụ nữ tại chợ đánh đập tàn bạo, tạo nên một cớ cho phe Jacobins và Quốc Hội Nghị Viện cơ hội chống lại họ, Người bạn Amar của Robespierre thuộc Ban An Ninh Thường Trực đã kêu gọi Nghị Viện đóng cửa hiệp hội qua lời kêu gọi tới những nghĩa vụ về trật tự tự nhiên:
“Mỗi giới tính thích hợp cho loại nghề nghiệp dành riêng cho giới tính đó;  các hành động của nó được giới hạn trong phạm vi không thể bị phá vỡ theo luật tự nhiên đã đặt giới hạn lên nhân loại những yêu cầu bắt buộc. Nếu chúng ta suy nghĩ rằng sự giáo dục chính trị cho đàn ông vẫn còn ở trong trạng thái bình minh mới ló dạng, rằng các quy định vẫn chưa phát triển và chúng ta vẫn đang ngập ngừng với hai chữ “tự do,” vậy thì sự khai hóa về những quy định đó đối với phụ nữ còn yếu kém hơn bao nhiêu nữa khi mà sự hiểu biết chính trị của họ hầu như không có gì. Sự có mặt của họ trong xã hội quần chúng sẽ trao một vai trò tích cực của chính quyền cho những người phô bày ra những tư tưởng sai lầm hay bị dẫn dắt sai lạc.”
Vào ngày 30 tháng Mười, tất cả câu lạc bộ phụ nữ bị đóng cửa kể cả 60 hội tại các vùng tỉnh.
Điều không thể tránh được là những đòi hỏi sinh tử của việc tổng động viên toàn quốc cho chiến tranh có thể đã làm đảo lộn sự tản quyền trung ương  của những năm đầu Cách Mạng. Các cuộc nội chiến trong năm 1793 đã mang đến một sự rõ nét về những nguy hiểm của  việc địa phương tự trị, như các đội quân Cách Mạng, cao trào của những yêu sách phụ nữ cấp tiến,  và sự chống lại Thiên Chúa Giáo làm nổi bật sự thách thức của những khai mào địa phương.  Phong trào phản cách mạng đã củng cố cho phe cánh Jacobins bất tín nhiệm đối với những ngôn ngữ thiểu số. Vào tháng Giêng 1794, Barère (mặc dù ông ta xuất thân từ vùng Pyrénées nói ngôn nghữ Occitan) đã nguyền rủa sự ngu dốt và cuồng tín mà bọn liên minh ngoại quốc thao túng đến “những người được hướng dẫn một cách tồi tệ hay những người nói một loại thổ ngữ khác với thứ ngôn ngữ của nền giáo dục công.” Vì quên mất những hy sinh phi thường tại biên giới của những người yêu nước xứ Basques, Calatans, Flamands và Provenҫaux khi ông ta phát biểu, Barère đã cho rằng tư tưởng cộng hòa, nền văn minh và tiếng Pháp đồng nghĩa với nhau, Thật ra, những đáp ứng cho cuộc Cách Mạng tại các vùng miền  ngôn ngữ thiểu số rất khác biệt nhau. Tuy nhiên,  sự khinh thường mà các “đại biểu đặc nhiệm” và thành viên của các đạo quân Cách Mạng biểu lộ  ra đối với các ngôn ngữ  và văn hóa thiểu số càng làm trầm trọng thêm sự bất tín nhiệm của Paris.
Sự khuấy động của hầu hết các nhóm dân quân Sans-Culottes đã tiết lộ ra những căng thẳng trong nội bộ các liên minh quần chúng trong năm Cách Mạng thứ Hai (1793). Nhưng những thành tựu của liên minh này cũng không kém nổi bật vào cuối năm 1793.  Vào thời điểm đó, các lực lượng Cộng Hòa do Napoleon Bonaparte, một sĩ quan kỵ binh trẻ lãnh đạo đã chiếm lại Toulon và quân ngoại quốc chịu những tổn thất nặng nề ở vùng Đông Bắc và Đông Nam. Mặc dù thành tích không hoàn toàn đạt được mức tối đa, sự suy thoái kinh tế đã đổi chiều và giá trị của đồng tiền Assignat đạt được mức 48%. Cuộc nổi loạn tại Vendée đã được khắc phục và các cuộc nổi dậy của phe Liên Bang bị đè bẹp, với một tổn thất sinh mạng lớn lao trong cả 2 vụ. Tháng 12 năm 1793 và tháng Giêng 1794 là cao điểm của các cuộc hành hình: 6882 người trong số 14,080 bị toà kết án vào thời khủng bố đã bị xử tử trong mấy tháng này.
Chính trong bối cảnh của sự thành công quân sự này nhưng cũng với những quá độ và những liên tục kiềm chế tự do mà một cuộc tranh luận sinh tử và cần thiết đã xẩy ra về sự tiếp tục và chiều hướng của sự khủng bố, khi những người Jacobins “ôn hòa” như Danton và Desmoulins hối thúc chấm dứt sự kiểm soát của thời khủng bố và sự thực thi Hiến Pháp 1793. Vào ngày 20 tháng 12, họ tra vấn Ủy Ban Công An tại Le Vieux Cordelier:
Quý vị muốn tiêu diệt tất cả kẻ thù của quý vị bằng phương thức hành hình hay sao?  Đã bao giờ có một sự điên rồ quá mức như vậy chưa? Quý vị có thể nào đưa một người lên bục tử hình mà không tạo thêm mười kẻ thù nữa từ gia đình và bạn hữu của người đó? Tôi lại nghĩ khác hơn với những người nói với quý vị rằng việc khủng bố phải duy trì để giữ trật tự.”
Tuy nhiên, nguy hiểm đã không hết: Tại mặt Tây Nam, quân Tây Ban Nha vẫn kiểm soát vùng lãnh thổ của Pháp. Tại St-Domigue, đề nghị tháng Sáu 1793 về việc trả tự do cho nô lệ khi họ muốn chiến đấu cho nhà nước Cộng Hòa (theo sau bởi sự giải phóng vào tháng Bẩy và tháng Tám được lan ra tới khắp các thuộc địa của Pháp theo bộ luật 4 tháng Hai 1794) đã không thành công trong việc đánh bại liên minh các điền chủ trại da trắng và hạm đội Anh Quốc. Trong tình trạng như vậy, Quốc Hội Nghị Viện đã đáp trả bằng cách giữ nguyên Ủy Ban và các thành viên của nó.
Hơn nữa, như ta thấy, đặc biệt đối với Robespierre và các đồng sự của ông, việc khủng bố có mục đích sâu xa hơn là chỉ đơn giản thắng cuộc chiến. Đối với Robespierre, viễn ảnh của ông ta về một xã hội hồi sinh, có đạo đức và phủ nhận đạo giáo là cái lý tưởng cốt lõi của cuộc Cách Mạng.  Ông ta diễn thuyết trong Nghị Viện vào ngày 5 tháng Hai 1794:
“Đã đến lúc phải bày tỏ rõ ràng mục đích của Cách Mạng. Chúng ta ước muốn có một trật tự của mọi thứ, nơi đất nước bảo đảm  sự an sinh của mỗi cá nhân và từng cá nhân hãnh diện hưởng thụ sự thịnh vượng và vinh quang của đất nước. Chúng ta mong muốn cải tổ đất nước chúng ta thành một đế chế của lý trí thay vì thể chế độc tài theo truyền thống, một dân tộc hoan hỉ, hùng mạnh và hạnh phúc thay vì một dân tộc bất hạnh, phù phiếm và bần cùng. Đó là có thể nói rằng, tất cả những đức tính và kỳ tích của chế độ Cộng Hòa thay cho những thói hư tật xấu và những chuyện vô bổ của chế độ quân chủ.”
Tuy nhiên, cuối cùng người dân Pháp mà Robespierre nhìn thấy trong tấm gương không phải là hình ảnh phản chiếu của chính ông ta.
Ngược lại, đối với đa số Quốc Hội Nghị Viện, mục tiêu của khủng bố là sự đạt được hòa bình; và sự kiểm soát về kinh tế và chính trị, cuối cùng là những cưỡng bức tạm thời và đáng tiếc: sự mở rộng chung về quyền lực của Ủy Ban là một sự công nhận những thành tựu của nó và vì sự khủng hoảng chiến tranh tiếp tục, nhưng đó không là một sự đo lường về sự ủng hộ cho những tư tưởng của phe Jacobins. Mặt khác, nhóm Sans-Culottes đã phát triển một tầm nhìn cấp tiến khác biệt về một xã hội với những nông trại và hãng xưởng nhỏ bé được tạo nên từ sự tái phân bổ tài sản và được củng cố bằng một nền giáo dục miễn phí, thanh trừng bọn ăn trên ngồi trưóc cũ và một nền dân chủ trực tiếp. Cuối cùng, sự chia rẽ chính trị và xã hội trong nội bộ đồng minh Cộng Hòa được chứng tỏ là không thể hòa giải và giải thích cho nền chính trị đầy chết chóc 1794.
Ngược lại với những lời kêu gọi ngày càng tăng cho một sự giảm bớt chính sách khủng bố, Hébert và các đồng minh của ông ta đã kêu gọi một cuộc nổi dậy quần chúng khác giống như trong ngày 5 vâ tháng Chín 1793, khi nhóm Sans-Culottes cuối cùng đã áp đặt ý nguyện của họ lên Quốc Hội Nghị Viện để đẩy mạnh chính sách khủng bố đi xa hơn.  Trong việc xúc tiến, họ đã cung cấp lý lẽ cho Ủy Ban Công An có thể chống lại cả hai nhóm “cực đoan” và “khoan nhượng,” sự nghẹt thở của phong trào quần chúng tại Paris và các nơi khác được hoàn thành với sự hành quyết đám Cordeliers trong tháng Ba (gồm có Hébert, Ronsin, Vincent, Cloots và các đồng chí của họ) và sự đóng cửa 39 hiệp hội quần chúng. Điều này giúp Nghị Viện rảnh tay để khuyến khích việc buôn bán tại các thị trường mở bằng việc nâng giá lợi nhuận. Đi đôi với sự áp đặt lương tối đa ở tỷ lệ bằng  tỷ lệ tháng Chín 1793,  điều này tạo nên một cú đánh nghiêm trọng vào những người hưởng lương và đồng tiền Assignat một lần nữa lại xuống giá tới 36%  vào tháng Bẩy.
Những người đi theo Robespierre đã bước trên một lối đi hẹp giữa những người ủng hộ ngày càng xa lánh họ cả trong và bên ngoài Nghị Viện, và sự trông cậy vào những cố gắng lấy ý kiến công chúng làm khuôn mẫu nhân danh ý nguyện và đạo đức Cách Mạng mà họ tuyên bố  độc quyền. Trong bối cảnh này, Saint-Just đã rút ra sự kiên quyết của Rousseau rằng, ý nguyện chung không đơn giản là sự hỗn hợp ý kiến nhưng là một nhận thức không bị sa đọa của lợi ích chung: theo ngôn từ của Robespierre là “một ý nguyện duy nhất.” Vào ngàyy 26 Germinal năm Cách Mạng II (15 tháng Tư 1794), Saint-Just đã biểu lộ sự ưa thích của ông ta cho một nền chính trị “lương tâm công chúng, bao gồm sự khát khao của người dân cho lợi ích chung.” Vì vậy ông tin rằng: “không may, sự khát khao này đã bị làm sai lạc bởi những ý định xấu xa của những đồng minh trước đây.” Bài diễn văn của Saint-Just chỉ đọc sau sự hành quyết nhóm Cordeliers và nhóm “nhân nhượng” ít ngày và một ngày trước sự bắt giữ Pauline Léon và Claire Lacombe như những cảm tình viên của Hébert (Léon được thả vào tháng Tám 1794 và Lacombe một năm sau đó).
Sự chia rẽ trong số “những người ái quốc” đã làm cho nhóm lãnh đạo Jacobins ngày càng liều lĩnh. Vào ngày 20 tháng Tư, Billaud-Varenne đã báo cáo lên Quốc Hội Nghị Viện thay mặt Ủy Ban Công An về điều cần thiết phải làm là:
“Để lấy lại sự hứng khởi của người dân muốn quay về với sự tự do, bởi thế, một hành động mạnh mẽ là cần thiết, một sự thúc đẩy mãnh liệt, thích hợp để phát triển các đức hạnh dân sự và trấn áp những dục vọng của sự tham lam, mưu đồ và tham vọng.”
Một thời gian ngắn sau đó, Robespierre cũng đưa ra một báo cáo về việc tổ chức các lễ hội công cộng, tìm kiếm cả hai sự bảo đảm cái nhiệm vụ hướng dẫn dân sự cho họ và để kiểm soát họ.  Lễ hội Robespierrist đạt tới cực điểm trong buổi “lễ của Đấng Tối Cao” ngày 7 tháng Năm mà ông  ta đã hy vọng dùng để tái liên kết những người ái quốc quanh một niềm tin chung đối với một thượng cấp. Đây là một màn trình diễn phô trương do Jacques-Louis David chỉ đạo và với Robespierre lúc này là chủ tịch của Nghị Viện dẫn đầu cuộc diễn hành trong trang phục áo khoác ngoài màu xanh ưa thích của ông với một bó hoa màu xanh trong tay. Tuy nhiên, sự thiếu phần tự phát của lễ hội đã xác quyết cho sự lo sợ của Saint-Just là cuộc Cách Mạng đã bị ngưng trệ.
Tương tự, các nhiệm vụ giữ gìn trật tự của chính sách khủng bố ngày càng tìm kiếm sự kiểm soát nội dung của các buổi trình diễn nhạc kịch. Kể từ cuối năm 1793, 150 vở nhạc kịch đã bị kiểm duyệt bằng cách phải viết lại hay bị cấm thẳng thừng. Vào tháng Ba, Corneille và Racine đã biến mất khỏi sân khấu và vở kịch William Tell phải viết lại trước khi tái xuất hiện vào tháng Năm 1794 với cái tên “ Les Sans-Culottes Suisses.”  Một cuộc tranh luận mãnh liệt theo sau đó về việc những vở kịch phi Cách Mạng có không cần thiết phải “mang tính yêu nước” hay không.  Trong việc biện hộ cho sự sản xuất các vở kịch câm, Adèle de Sacy chống lại sự tố cáo rằng đó là những vở phản Cách Mạng. Viên giám đốc của Học Viện Nghệ Thuật biện giải:
Người Cộng Hoà tốt không sợ hãi sự phản đối hay tố cáo vì chúng là loại đá thử vàng của quyền công dân. Nhưng mỗi một sự phản đối hay tố cáo phải được xem xét, kiểm tra tận gốc rễ. Đây là nhiệm vụ giám sát, và chỉ có vậy thì sự tôn trọng quần chúng mới mang lại công lý cho kẻ tố cáo.”
Trong tháng Năm, Robespierre đã can thiệp để cho phép các vở kịch chế độ cũ được trình diễn nguyên vẹn như một phương cách để giải quyết những căng thẳng trong việc cố  gắng xử dụng chất liệu có trước Cách Mạng cho các mục tiêu Cách Mạng. Tuy nhiên vào tháng sau,  cuộc tranh cãi vẫn tiếp tục về việc tất cả các thứ đại diện sân khấu có nên được “dạy dỗ và làm cho chính xác” hay không.
 Việc dính líu trực tiếp vào nghệ thuật sáng tạo trong cái nền chính trị của thời khủng bố đã mang lại những hậu quả thê thảm. Vào năm 1788, David đã vẽ lên một bức tranh chân dung sáng chói của Antoine Lavoisier và bà Marie-Anne vợ ông. Lavoisier là con trai một nhà tư sản giàu có đã từng mua tưóc vị quý tộc, và vào năm 1768 trở thành một viên chức thuế vụ tư nhân. Ông ta cũng là một nhà khoa học sáng chói nhất trong thời đại của ông. Cuốn sách quan trọng nhất của ông là cuốn “Traité élémentaire de la chimie” xuất bản năm 1789. Khi chống lại các giả thuyết cho rằng không khí, nước, lửa và đất là các nguyên tố không thể tách rời, Lavoisier đã thiết lập ra những  phương pháp phân lượng cho sự định rõ các nguyên tố hoá học và đã phát minh ra cái hệ thống để định danh các hợp chất hoá học. Thí dụ, ông đã khám phá ra rằng, nước là một hợp chất của hydrogen và Oxygen, và cái diễn tiến hoá học của sự bùng cháy. Sau năm 1789, Lavoisier, một người bạn của Franklin , đã  bỏ tâm huyết của mình vào cuộc Cách Mạng, hành động như một viên chức cao cấp trong suốt cuộc chiến và trong nhiệm vụ phát minh ra hệ thống thước tây (metric system) khi ông tiếp tục những thí nghiệm của mình. Tuy nhiên, ông ta có một kẻ thù đầy uy quyền là Jean-Paul Marat, người mà những lý thuyết khoa học ông này bị Lavoisier đưa ra là giả mạo (dối) khi Marat cố gắng gia nhập vào Học Viện Khoa Học Hoàng Gia. Vào năm 1791, Marat tố cáo ông:
Tên nhóc đáng khinh này hưởng thụ một lợi tức 40 ngàn đồng Livres chẳng có yêu sách nào khác hơn để nổi tiếng ngài việc  đưa thành phố Paris vào trong tù với một bức tường tốn phí hết 30 triệu của người nghèo.  Cầu trời cho hắn bị treo cổ lên cái cột đèn gần nhất.”
Vào tháng 11 năm 1793, lúc này tất cả những chủ nông trại trước đây đều đã bị truy tố. Robespierre đã can thiệp cứu mạng một trong số họ. Tuy nhiên, David, người đã gia nhập vào Ban An Ninh Quốc Gia vào tháng Chín và đã ký trên 400 trát lệnh bắt giữ, rõ ràng đã không có một nỗ lực nào để cứu người mà ông đã từng vẽ chân dung. Lavoisier ra trước toà án Cách Mạng vào 5 tháng Năm 1794 và đã viết một bức thư cuối cùng cho vợ trước khi bị hành quyết  vào ngày 8:
Anh đã sống một cuộc sống tương đối lâu dài, trên hết, là một cuộc sống rất hạnh phúc; và anh nghĩ rằng anh sẽ được nhớ đến với ít nhiều tiếc nuối và có lẽ một vài tiếng tăm sau lưng. Anh còn có thể đòi hỏi gì hơn nữa? Những biến cố mà anh có liên quan đến có lẽ sẽ giúp anh thoát khỏi những rắc rối của tuổi già. Anh sẽ ra đi mang theo nguyên vẹn năng lực của anh.”
Rõ ràng đã có nhiều cái chết không cần thiết trong năm này, mặc dù không có cái nào quá phí phạm cho nhân loại như cái chết của Lavoisier. Một cuộc cách mạng bắt đầu trong năm 1789 với tính nhân đạo, cái nhiệt tình đổi mới dường như đã biến chuyển thành một cơn ác mộng của những  lăng nhục thái quá đối với tự do cá nhân và sự an toàn của con người. Điều này vẫn luôn là một bài toán khó đoán quan trọng nhất của cuộc Cách Mạng Pháp. Tại sao lại có một chính sách khủng bố trong giai đoạn 1793-1794? Có phải phong trào phản cách mạng đã làm cho cuộc Cách Mạng  trở nên bạo động, hay chính sự bạo động cách mạng năm 1793-1794 là một đáp trả tương xứng cho sự đe doạ của  phong trào phản cách mạng?
Những hồi đáp cho những câu hỏi này luôn luôn phụ thuộc vào cả nhận thức đặc biệt của các sử gia và trong bối cảnh mà họ đang viết. Cùng một giọng cảm thông là kiệt tác “Twelve who Ruled” của R.R. Palmer  được viết trong những ngày đen tối nhất cùa Thế Chiến 2 vào năm 1941. Palmer diễn tả Robespierre như một trong nửa tá các tiên tri của nền dân chủ.
 Kể từ 1940, không còn nữa chuyện đáng tức cười như người ta đã từng nói rằng dân chủ được thành lập trên đức hạnh. Khi chúng ta đọc qua một bản tổng kê những thay đổi mà Robespierre đã loan báo rằng chính quyền Cách Mạng mong muốn được thấy chúng trong nước, chúng ta  cảm nhận được một sự tương tự chắc chắn với cái mà chúng ta có thể đọc được trong báo buổi sáng.
Ngược lại, đối với Pierre Chaunu, chính sách khủng bố gợi lên hình ảnh của (cuộc diệt chủng) tại Cambodia và của các nhà tù thời Stalin cùng thời với thời điểm ông này viết vào năm 1983:
Thời kỳ của Jacobins chỉ có thể xuất hiện ngày nay như cái hành động đầu tiên, như hòn đá tảng của một loạt các hành xử lâu dài và đẫm máu trải dài từ 1792 cho đến thời đại chúng ta, từ cuộc diệt chủng Franco-French trong vùng Thiên Chúa Giáo Tây Phương qua các trại tù khổ sai Gulag của Sô Viết, đến sự hủy diệt gây ra từ cuộc Cách Mạng Văn Hoá Trung Quốc đến thời Khner đỏ diệt chủng tại Cambodia.”
Vào năm 1804, Tom Paine, một cựu chiến binh người Anh trong cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ, người mà trong giai đoạn 1792-1794 vừa có mặt trong Quốc Hội Nghị Viện, vừa trong ngục tù, đã đỗ lỗi cho cái ảnh hưởng khiêu khích của các lực lượng ngoại quốc về sự điên rồ. Tương tự, hầu hết các sử gia, cho dù là Marxist hay tự do, đã thấy cuộc Cách Mạng như đặt căn bản trên niềm tin tự do chân thật trong sự bao dung và tiến trình của ngành tư pháp cho tới khi nó bị buộc phải thoả hiệp vào một số các nguyên tắc ban đầu của nó vì những tình huống phản cách mạng gây bạo động.  Tuy nhiên, trước đó, các sử gia như Franҫois Furet, Patrice Gueniffey và Simon Schama đã biện luận rằng cái tâm lý của chính sách khủng bố đã hiện diện ngay từ khởi đầu của cuộc Cách Mạng tronng tháng Năm 1789 khi, như Gueniffey lý giải, “các nhà ái quốc” đã bắt đầu bôi nhọ các đối thủ của họ như những kẻ thù của một trật tự mới hơn là những thành viên khác biệt quan điểm. Niềm tin lan toả vào năm 1789 trong một “âm mưu của quý tộc” nhằm mục đích bỏ đói người dân Paris để họ không thể hoạt động, đã củng cố cho biến động phá ngục Bastilles và những ngày Cách Mạng tháng Mười, và được âm vang lại mỗi khi các nhà Cách Mạng cần giải thích việc làm trái nghịch với những chính sách của họ.  William Reddy đã tranh cãi rằng: “Lịch sử của Cách Mạng không thể được hiểu biết mà không có một lý thuyết tương đồng về những cảm xúc, rằng những con người quá sức nhạy cảm này ở một thời điểm họ bộc lộ ra trước công chúng những cảm giác đau đớn, sợ hãi và đố kỵ của họ.” Ông đề nghị những chuyện quá nhạy cảm như vậy để giải thích sự ám ảnh đặc biệt mà các nhà Cách Mạng đã có với các âm mưu hầu hết  là tưởng tượng, mà theo Lynn Hunt, vì âm mưu chính là nguyên tắc tổ chức cốt lõi của luận thuyết Cách Mạng Pháp. Truyền thuyết của Cách Mạng đến từ các âm mưu thống trị.
Đối với Simon Schama, bạo lực là nguồn gốc năng lượng tập thể của cuộc Cách Mạng.  Thời khủng bố, đơn giản cũng chỉ như thời 1789 với số lượng sinh mạng tử vong cao hơn. Biến cố đầu tiên trong bản tường thuật năm 1789 của ông, mà ông đã cố trì hoãn, là những vụ sát hại cùng lúc Bertier de Sauvigny và con rể ông ta  là Foulon trong ngày 22 tháng Bẩy. Dĩ nhiên, một sự khác biệt rõ ràng giữa những vụ sát nhân này và chính sách khủng bố thời 1793-1794 là các vụ khủng bố sau này là sự đàn áp có tính cách cơ chế toàn quốc hơn là sự trả thù quần chúng tự phát. Tuy nhiên, sự trả lời mang tính tố cáo của Antoine Barnave về cái chết của Foulon: “Vậy thì, dòng máu nào mới chảy trong sạch như vậy?” đã được Schama dùng để ám chỉ rằng các nhà Cách Mạng ở khắp mọi hình thức xuất thân đều có bàn tay dính máu. Dĩ nhiên, để chú trọng như Schama làm vào một vụ việc khủng khiếp như biến cố này là để cố giảm thiểu tầm quan trọng và ý định của cuộc Cách Mạng 1789: không phải quyền con người mà chỉ là sự giết hại những người vô tội mới là bản chất của nó.
Sự thực là có những dấu vết trong sự diễn giải các hình ảnh bằng lời nói trong  Cách Mạng, (và cả trong phản cách mạng) để định nghĩa các đối thủ của họ là những kẻ có âm mưu, những kẻ phản quốc và là kẻ thù. Điều này không đáng ngạc nhiên trong một xã hội mà cho tới 1789, chính trị chỉ dành riêng cho các thành phần thuộc triều đình với những mưu đồ của họ và là nơi Giáo Hội loại trừ những kẻ phê phán như những kẻ theo tà giáo. Khi Jacques-Alexis Thuriot đưa ra cái lý lịch Cách Mạng của ông như bằng chứng vô tội, Hébert trả đũa: “Biện minh rằng có phục vụ cho Cách Mạng  thì chứng tỏ được cái gì? Bọn người có âm mưu luôn luôn xử dụng phương pháp này, để có thể lừa gạt thiên hạ, bọn chúng phải ra vẻ phục vụ thôi. Bọn chúng cần đạt được sự tin tưởng của Cách Mạng thì mới có thể thao túng nó tốt hơn.” Tuy nhiên, cho rằng bản chất của Cách Mạng bởi thế tự nó có sẵn bạo lực là bỏ sót một thứ ngôn ngữ uy lực hơn của chủ nghĩa tự do và tái tạo, tự nó là một cố gắng để thoát ra khỏi sự bất bao dung và bạo lực của chế độ cũ. Hơn nữa, để giảm bớt đường hướng của cuộc Cách Mạng theo một dòng chảy không khoan nhượng theo cảm xúc và sự ám ảnh hoang tưởng với những âm mưu kết hợp lại thành chính sách khủng bố 1794 là đã bỏ sót những tiếng nói liên tục về chủ nghĩa tự do và sự khoan dung và cái đường lối mà theo đó sự bùng nổ chiến tranh đã biến đổi những chia rẽ chính trị  vào thành những vấn đề sinh tử. Như Timothy Tackett đã chỉ ra, cho tới cuộc trốn chạy của vua Louis XVI vào tháng Sáu 1791, và sự ồn ào của những cận thần lãnh đạo của vua cảnh báo sau khi ông bị bắt lại, đã có rất ít những bàn bạc về các mưu đồ ở trong Hội Đồng. Chính cái phong trào phản cách mạng và những cảm xúc hỗn tạp của hoảng hốt, giận dữ, tự hào và sợ hãi đã làm dấy lên điều mà nó nuôi dưỡng một sự sẵn lòng tin tưởng rằng kẻ thù đang ở khắp nơi. Sự khủng bố không thể chỉ đơn giản được hiểu như một ý niệm kiêu ngạo Cách Mạng.
Trong khi sự đe dọa quân sự còn tồn tại thì sự hiện hữu của chính sách khủng bố vẫn có thể được biện hộ. Vào tháng Prairial ll (20 tháng Năm đến 18 tháng Sáu), 183 trong số 608 sắc lệnh của Ủy Ban Công An có lên quan đến những vấn đề tiếp liệu và giao thông vận tải được Lindet ký; 114 liên quan đến đạn dược và do Prieur dela Côte-d’O khởi sự và 130 do Cannot ký liên quan đến lục quân và hải quân. Tuy nhiên, chắc chắn là vào cuối mùa xuân 1794, sự hành quyết các nhà Cách Mạng quần chúng của cả 2 cánh  tả và hữu của phe bá chủ Jacobins và sự leo thang chính sách khủng bố tại thời điểm thành công quân sự đã làm ngay cả những phần tử Sans-Culottes yêu nước nhất xa lánh. Những người bị cầm tù như những kẻ bị tình nghi gồn đủ loại từ những anh hùng thời 1789 và 1792, nhà sản xuất bia rượu Santerre, hầu tước de Sade. Rouget de l’Isle và nhà thơ vĩ đại nhất nước Pháp André Chénier. Đối với Jacques Ménétra, một thành viên tích cực của phe nhóm ủng hộ Robespierre, những ngày tháng này đã gợi lên một cách tương tự hình ảnh của việc ăn thịt người, sát nhân, sự man rợ và những cái chết không cần thiết, ít nhất trong nhận thức muộn màng sau đó. Đặc biệt, bộ luật 22 Prairial year ll (ngày 10 tháng Sáu 1794) đã mở rộng thêm định nghĩa về phản cách mạng một cách bi thảm:
“Điều 6: Những kẻ sau đây được coi là kẻ thù của nhân dân: những kẻ tìm cách phỉ báng hay phá hoại Quốc Hội Nghị Viện, những kẻ tìm cách gây chán nản tuyệt vọng, những kẻ tìm cách làm sai lạc ý kiến để làm thiệt hại năng lực và sự trong sạch của các nguyên tắc Cách Mạng và Cộng Hòa…
Điều 7: Hình phạt cho tất cả những kẻ vi phạm dưới quyền xét xử của toà án Cách Mạng là tử hình.”
Trên hết, đó là trận chiến Fleurus ngày 26 tháng Sáu cuối cùng đã chấm dứt sự đe doạ của quân Áo trên đất Pháp mà nó phô bày ra sự nghịch lý trong cái liên minh quần chúng của năm (Cách Mạng) ll. Sự kiện các vụ hành quyết theo điạ lý vùng miền trong thời kỳ khủng bố đã tập trung tại các tỉnh nơi mà sự đe doạ quân sự nặng nề nhất. Lúc này, khi áp lực quân sự đã giảm sút, số lượng hành quyết vì đối nghịch chính trị gia tăng. Sự thoát khỏi áp lực quân sự ngay tức thì đã phô bày ra một cách rõ ràng mục tiêu mới mà sự khủng bố được xử dụng. Kể từ tháng Ba 1793 đến 10 tháng Sáu 1794, đã có 1251 người bị hành quyết tại Paris.Theo sau điều luật 11 Prairial (10 tháng Sáu), chỉ trong 6 tuần lễ có 1376 người bị hành hình. Những tuần lễ này không phải là thời điểm đàn áp không ngưng nghỉ. Vào giữa tháng Bẩy, 71 đại biểu phe Girondins có thể đã phải nối tiếp đồng chí của họ lên bục hành quyết trong tháng Mười 1793, nhưng nhờ sự can thiệp của Robespierre, họ đã được trở về vị trí thành viên chính thức của Nghị Viện. Tuy nhiên, họ không có được sự tha thứ.
Bài diễn văn của Robespierre trong Nghị Viện ngày 26 tháng Bẩy với sự đe doạ mơ hồ đến những đại biểu không nêu tên đã cung cấp động cơ cho sự phản ứng.  Trong số những người âm mưu lật đổ ông là Fouvhé, Collot d’Herbois, Fréron và Barras, lo sợ rằng Robespierre có ý định đưa họ ra chịu trách nhiệm cho cuộc đàn áp đẫm máu phe nhóm Liên Bang tại Lyons, Toulon và Marseilles. Khi ông ta bị bắt giữ ngày hôm sau, ông đã không tìm được sự hỗ trợ của phong trào Sans-Culottes, đã bị bẻ gãy bởi những biện pháp của chính phe Jacobins, cái chết của những người lãnh đạo của phe nhóm và sự xa  lánh của những công nhân hưởng lương. Chỉ có 17 trong số 58 chi bộ đáp lại lời kêu gọi cứu giúp ông ta và tan rã không lâu sau đó.  Robesierre đã tự bắn vào hàm, rõ ràng trong một cố gắng tự sát. Robsepierre đi lên giàn hành hình vào ngày 28 trong sự đau khổ. Một nhân viên cảnh sát đã tường thuật rằng, khi đầu của Robespierre rơi xuống, có một đám thợ làm chổi hô to: “Coi cái cực điểm (Maximum) rơi vào trong rổ kìa!” (Robespierre lấy tên gọi là Maximum) và ngày hôm sau họ làm một cuộc đình công đòi tăng lương 1/3.
Cuối cùng, hơn 80 người phe Robespierre bị hành quyết.  Sự lật đổ  Robspierre và phe cánh của ông vào tháng Bẩy 1794 đã vượt xa hơn sự đảo chánh  một phe đảng cầm quyền đã tồn tại lâu hơn dự định của nó. Đó cũng là sự chấm dứt một chế độ có những mục tiêu song hành là cứu  vớt cuộc Cách Mạng và tạo dựng một xã hội mới. Nó đã hoàn thành mục tiêu đầu với một giá đắt đỏ, nhưng cái viễn ảnh của một dũng sĩ dân sự đạo đức, tự kiềm chế hiện thân trong một xã hội mới đã bị mai một đi. Những người trong Quốc Hội Nghị Viện đã vui thích vì sự lật đổ Robspierre chính là những cựu thù Girondins của ông, có sự tham gia của những người ủng hộ ông lúc trước mà họ thấy tiện lợi để tha thứ cho sự đồng thuận của họ trong thời kỳ khủng bố bằng cách trút bỏ lương tâm của họ lên nấm mồ của ông.

Khi nhà vua chạy trốn - Chương 7

Chương 7Phán Xét Vua


Suốt ba tuần lễ sau ngày nhà vua chạy trốn và bị bắt trở lại, người dân Paris tiếp tục tham khảo ý kiến trên khắp các tỉnh thành. Đối với câu lạc bộ Cordeliers, một cuộc trưng cầu ý dân toàn quốc là cần thiết trước khi có bất cứ quyết  định nào về số phận của nhà vua, và hội viên của họ hy vọng rằng đa số người dân sẽ lựa chọn thể chế cộng hòa. Ngược lại, cánh trung lập lại tin rằng người dân Pháp từ thủ đô đến miền quê sẽ hậu thuẫn  vương triều một cách áp đảo. Trong lúc đó, Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia đã trì hoãn  quyết định của họ về việc thẩm vấn, một phần để chờ phản ứng của các vùng nội địa, những phản ứng mà trong các bức thư các đại biểu gửi về cho đơn vị cử tri của họ đã nhiệt tình kêu nài gạ gẫm.  Nói vắn tắt là mọi người ý thức rằng Paris không phải là toàn thể nước Pháp và rằng quan điểm về nhà vua của đại đa số công dân vẫn chưa được biết đến. Nói chung là mọi người đang chờ người dân Pháp lên tiếng.
Và cuối cùng người dân đã lên tiếng. Đằng sau tất cả những âm thanh và sự phẫn nộ của sự động viên toàn quốc,tổ chức phân chia đội ngũ các vệ binh, củng cố phòng thủ biên giới, đàn áp những thế lực tình nghi để ngăn ngừa, mọi người bắt đầu tự hỏi  về số phận của một con người mà những hành động của người đó đã gây nên toàn bộ các sự kiện. Họ cần giải thích rõ rệt về việc biến mất bất ngờ của vua Louis? Việc đó có hàm ý gì đối với Hiến Pháp mới mà HĐCMQG đang gặp khó khăn để hoàn thành? Vị trí nào, hay có một vị trí nào cho một vị vua, dù là nhà vua này hay bất cứ nhà vua nào khác, trong cái thế giới mới mà các nhà Cách Mạng hy vọng xây dựng lên?

Một công dân vua


Những câu hỏi như vậy đặc biệt làm người dân cả nước đau lòng và bất an không thua kém người dân Paris, những người đã nối kết với vua bởi một sự ràng buộc đặc biệt về cảm xúc và truyền thống. Dĩ nhiên, cá nhân các vị vua không thể nào được đứng ngoài sự bị khiển trách. Hai người tiền nhiệm của nhà vua hiện tại: Vua Louis XIV và Louis XV thường là chủ đề của những chỉ trích châm biếm từ cả giới trí thức và giai cấp thường dân. Tuy vậy, khác với thanh danh của cá nhân các vị vua, cái huyền thoại của vương triều lại tồn tại với sức mạnh lạ thường. Nó được xây dựng lên từ một loạt danh sách các truyền thống lịch sử cổ xưa, những huyền thoại trần gian cũng như trên các hình ảnh của các vĩ nhân  thu góp được từ các triều đại thế kỷ 17 và 18 qua sức mạnh quân sự và sự huy hoàng tráng lệ của các lâu đài và cuộc sống của triều đình. Cả người lớn đến trẻ em tại Pháp tiếp tục phô bày một nền văn hoá dân gian về những câu chuyện quần chúng nơi mà sự hiện hữu của một vương triều và lý tưởng của một quân vương đức độ được duy trì một cách đương nhiên, ngược lại với những ông vua tồi tệ hay những ông vua nhu nhược được cố vấn sai trái. Cho tới khi chế độ cũ chấm dứt, nhiều người trong số những tầng lớp thấp kém vẫn có niềm tin vào “cái chạm tay của vua” khi họ cho rằng quyền lực thần kỳ của vua chữa khỏi chứng bệnh tràng nhạc (scrofula), loại bệnh  làm da sưng phồng.  Và đức hạnh của vua Henry IV, vị vua đầu tiên của dòng họ Bourbon, sức mạnh của ngài, ý thức cao và tình yêu thương thần dân của ngài vẫn còn được nhắc đến vào buổi ban đầu của cuộc Cách Mạng khi người dân muốn diễn tả một chúa thượng lý tưởng. Quả thực, từ 1789 đến năm 1791, nhà vua Louis XVI thường được so sánh với nhà vua Henry lý tưởng.
Chắc chắn hình ảnh vương quyền đã được gợi lên trong nhiều thập niên trước năm 1789. Trong nhiều thế kỷ đã có đủ loại các thành ngữ được mô tả để ca tụng sự vĩ đại của vua:  nhà vua là một dũng sĩ vĩ đại, một phán quan chính trực, một lãnh chúa cao ngất. Nhưng vào buổi đầu Cách Mạng, hình ảnh của nhà vua như một vị cha già dân tộc, một sự đặt tên được nói đến ít ra từ thế kỷ XVI  đã đạt đến ưu thế. Chẳng có gì nghi ngờ khi cho rằng hình ảnh đó được chính vua Louis XVI khuyến khích một cách có ý thức.  Nhà vua vô cùng  tự hào về sự thành công trong nhiệm vụ làm cha của riêng ông, một thành công đạt được sau một thời kỳ dài thất bại về đời sống tình dục và hỗn loạn tâm lý, và việc nhà vua đặc biệt thích thú với việc nuôi dưỡng con cái.  Nhà vua liên tục xử dụng ẩn dụ về tình phụ tử trong các diễn văn gửi tới HĐCMQG. Louis XVI cũng làm tương tự tại Varennes, khi ông tiết lộ thân thế của mình cho những “đứa con trung thành” của ông tại nhà ông Sauce. Dĩ nhiên, hình ảnh cha già, cũng như hình ảnh của vua, có những ý nghĩa phức tạp và đôi khi mơ hồ. Nó có thể ám chỉ hình ảnh gia trưởng trong một uy quyền gần như tuyệt đối theo luật và theo tập quán đối với vợ con, một hình tượng với khuôn mẫu vươn xa tới khái niệm tôn giáo về ngôi thứ Nhất Thiên Chúa Cha đầy quyền năng. Nhưng khi hình ảnh được một thành phần lớn  của người dân có giáo dục bám chặt lấy vào cuối thế kỷ XVIII, hình ảnh vua như cha già dân tộc có được nối kết trên hết với cái  mốt thời trang văn chương về một giai điệu mang gia đình tính.  Trong ca kịch và văn chương thời kỳ này, đã có biết bao lời ca ngợi cho hình ảnh “người cha tốt lành,” một người cha không độc tài mà thích hòa giải, ngay cả bình đẳng với vợ con, đối xử với mọi thành viên trong gia đình như bạn hữu và người đồng hành.
Không thể có sự sai lầm khi nói về cảm giác kính trọng đối với Louis XVI trong bản danh sách các bất mãn năm 1789. Hàng ngàn thư từ chính thức đã được người dân Pháp tấu trình lên năm 1789 trong cuộc bầu chọn đại biểu chung. Hầu hết mọi người tiếp tục thỉnh nguyện nhà vua với danh từ truyền thống của danh dự và cứu xét từ “Hoàng thượng” hay “điện hạ” đi song hành với những thành ngữ  thỉnh nguyện thư chính thức: “Khẩn nài Hoàng Thượng anh minh ban cấp cho điều này điều kia là các diễn tả thông thường nhất.” Hơn một nửa các danh sách về những bất mãn đã mở đầu bằng những lời ca ngợi nhiệt tình đối với nhà vua trị vì và có trên một phần ba cố liên hệ tới đức tính phụ tử của vua. Nhiều người thêm vào tính nhân hậu và có khoảng một phần tư nói đến tính công minh của vua mặc dù không ai nói đến sức mạnh quân sự.  Gần một phần năm đặc biệt xử dụng từ ngữ “thiêng liêng” đối với vua, mặc dù từ ngữ này thỉnh thoảng xử dụng khi nói đến những khái niệm trừu tượng, chẳng hạn như “quyền sở hữu tài sản thiêng liêng” hay “Hiến Pháp thiêng liêng”, không chỗ nào khác mà nó được dùng để diễn tả một cá nhân chuyên biệt. Đó là sức mạnh văn hóa của sự huyền bí của vương triều kết hợp với lòng biết ơn đối với hành động vua Louis cho triệu tập đại hội nghị các thành phần giai cấp mà nó giải thích việc hầu hết các người yêu nước đã  tỏ ra bao dung và tha thứ cho nhà  vua reong suốt 2 năm đầu của cuộc Cách Mạng.
Chúng ta đã nhìn thấy điều đó kể từ tháng Mười 1789 nếu không sớm hơn, vua Louis đã tự mình đeo đuổi một chính sách lừa gạt. Ngay cả trong lúc nhà vua công khai chấp nhận những luật lệ mà HĐCMQG gửi đến cho ông, ông cũng bí mật loan báo cho nhà vua Tây Ban Nha rằng ông phải ký những luật đó dưới áp lực. Nhưng nói chung người dân Pháp không biết gì về việc này. Những nhà ái quốc trung hoà, với quyết định củng cố thể chế quân chủ lập hiến, đã  dùng hết quyền hạn của họ để cổ động cho hình ảnh của Louis qua những bài diễn văn và những trình bày được xếp đặt công phu mà họ đã thuyết phục nhà vua  làm theo. Và nếu chúng ta phán xét  qua những bức thư ào ạt gửi đến HĐCMQG, sự nổi danh của Louis có thể đã gia tăng trong 2 năm đầu của Cách Mạng. Không lâu sau bài diễn văn của nhà vua đọc trước các đại biểu tháng Hai 1790, thị trấn Ernée nhỏ bé đã viết: “Thật là một ngày hạnh phúc và đầy phúc lành được ghi nhớ mãi mãi khi nhà vua đức độ nhất, người lấy lại tự do cho dân Pháp, người cha dịu dàng của tổ quốc, sự hiện diện của người  đã làm rạng danh Hội Đồng  và cho tất cả thần dân của người.” Các nhà lãnh đạo tỉnh Troyes cũng không kém nhiệt tâm khi diễn tả sự liên hệ tình cha con với nhà vua: “Con cái của người cha chung lắng nghe lời nhà vua và đoàn kết sau lưng người như người mong muốn. Cái tình phụ tử của nhà vua đòi hỏi chúng ta chứng minh cho tình yêu đó.”
Có thể chắc chắn rằng cuộc Cách Mạng đã giảm thiểu đáng kể quyền lực của vua.  Hiến Pháp đã biến đổi vị thế của vua từ một vị vua toàn quyền thành một người  chỉ đứng đầu ngành hành pháp, với các quyền lập hiến giống như các quyền hạn của tổng thống Mỹ chỉ vừa mới được thiết lập ở bên kia bờ Đại Tây Dương. Tuy vậy, đối với hầu hết người dân, cái cảm giác đặc biệt bán phần mang màu sắc tôn giáo của vương triều vẫn tồn tại. Họ tiếp tục tin tưởng rằng nhà vua ủng hộ Cách Mạng và rằng cuối cùng ý nguyện của vua và của đất nước sẽ luôn luôn song hành. Sự hiểu biết sơ sài về những nhận xét bình phẩm của nhóm câu lạc bộ Jacobins vào nửa đầu năm 1791, mà trong số có người hối thúc nhà vua ra lệnh cấm các giáo sĩ ngoan cố vào triều đình, đã bị áp đảo bởi một loạt các lời cảm kích và tôn trọng.  Thị trấn nhò bé Coudray không xa Paris đã diễn tả sự phẫn nộ của họ đối với những hành vi bạo động xảy ra tại hoàng cung vào ngày 28 tháng Hai và  làm sỉ nhục tới một nhân vật thiêng liêng là nhà vua chúng ta. Khi nhà vua đau ốm với chứng viêm họng vào tháng Ba năm đó, hàng trăm hội đồng thị xã và câu lạc bộ Jacobins đã tổ chức những buổi thánh lễ long trọng để cầu mong nhà vua chóng bình phục, và hầu như mọi phố thị đã tưng bừng tổ chức lễ tạ ơn khi họ biết nhà vua đã hoàn toàn bình phục. “Thiên Chúa người cai quản vận mệnh của mọi quốc gia không muốn cướp đi khỏi chúng con, người ủng hộ mạnh mẽ nhất, là cột trụ vững chắc cho hạnh phúc của chúng con. Giáo hội chúng con ngân vang lên lời cầu nguyện tạ ơn” (Laval thuộc miền Tây nước Pháp). “Như đàn con nuôi của hoàng đế Henry vĩ đại, chúng con sẽ mãi mãi gắn bó  với vị vua dòng Bourbon này để xứng  với danh người  và đáng quý với tổ quốc” (Belly thuộc miền Đông). “Xin Thiên Chúa che chở thần tượng của đất nước” (Bourges thuộc miền trung nước Pháp). Vài tuần sau đó, thị trấn Châteaurenard nhỏ bé thuộc vùng tỉnh Provence đã mở màn  một bức tranh  chân dung nhà vua vẽ trên bức tường của toà thị sảnh thị trấn và viên thị trưởng vừa mới  được bầu đã đọc một bài diễn văn cúng hiến cho vua. Ông phát biểu: “Đức vua Louis đã tạo nên một mối quan hệ  hoàn toàn mới với thần dân của ngài, vì thế dường như không thể xếp ngài  vào chung  thể  loại với các vị vua khác. Các vị vua tìm sức mạnh của quyền lực qua việc xử dụng bạo lực  khủng bố, nhưng vua Louis XVI chỉ thể hiện sự tự tin có được qua đức độ của ngài. Các vị vua đòi hỏi sự tôn kính và tuân thủ, còn vua Louis chỉ yêu cầu có được tình con dân yêu mến. Các vị vua ước vọng là những chúa tể của thần dân, vua Louis chỉ muốn là người cha thân yêu của dân tộc. Các vị vua làm mọi thứ để trói buộc tự do của dân, Louis thì hoàn trả lại  hết cho chúng ta. Ngài là bạn hữu của nhân loại,  là một công dân vua.”
Vào buổi tối sự kiện Varennes, khắp các tỉnh thành trong nước, tuyệt đại đa số người dân Pháp tiếp tục  tỏ ra có tình cảm, ngay cả với sự tôn kính với cá nhân nhà vua. Họ tiếp tục nghĩ về vương triều như một trung tâm, một nơi cốt yếu của tình đoàn kết và sự gắn bó của quốc gia.

Những giọt lệ máu


Có lẽ chính cái cường độ mạnh mẽ về sự gắn bó với nhà vua đã thúc giục nhiều người dân Pháp nhớ lại kinh nghiệm của họ về những ngày bi thảm sau chuyện chạy trốn của nhà vua. Trong khoảng từ 21 tháng Sáu đến cuối tháng Bẩy, có trên 650 lá thư mà ban bí thư của HĐCMQG đã nhận được từ khắp các bộ phận tập trung trên cả nước, từ mọi ban ngành, mọi thị trấn lớn nhỏ và cả từ một số làng mạc đáng ngạc nhiên. Mục đích của đống thư tín liên lạc này là để tái khẳng định lòng trung thành với HĐCMQG trong cơn khủng hoảng chính trị quá lớn lao này kể từ khi có cuộc Cách Mạng. Nhưng đa số các lá thư chứa đựng những bày tỏ đau lòng về việc thay đổi thái độ đối với nhà vua trong sự đối mặt với khủng hoảng. Các hội đồng quản trị thị xã, các câu lạc bộ yêu nước, các đơn vị vệ binh quốc gia, hội phụ nữ, các toà án khu vực và đủ loại các công dân đã gửi đến những báo cáo, các báo cáo này rõ ràng do các nhân sĩ ưu tú địa phương soạn thảo, nhưng thường do hàng chục, hàng trăm người ký. Gom chung lại, những thư tín này họp thành một sự bỏ phiếu của ý kiến dân tỉnh lỵ theo thời gian, khi người dân cả nước cố tiến tới một thoả thuận với nhà vua và vị thế của vua đối với đất nước sau vụ Varennes.
Vào những ngày đầu của cuộc khủng hoảng, sau khi người dân đã nghe tin nhà vua biến mất nhưng vẫn chưa biết việc hoàng gia bị bắt lại, các phản ứng tuỳ thuộc vào sự đo lường về việc tin tức được loan truyền như thế nào và từ người nào. Những thỉnh nguyện thư của các câu lạc bộ tại Paris và các tường thuật của báo chí cấp tiến tương đối nhẹ nhàng với việc nhà vua mất tích. Nhưng các loan báo đầu tiên của chính HĐCMQG lại mù mờ hơn, không hề nhắc đến bản tuyên bố chống Cách Mạng của nhà vua và còn để một khoảng trống lớn cho người ta hiểu lầm rằng hoàng gia bị bắt cóc sao đó. Nhiều nhóm người dân tỉnh lỵ đã nhiệt tình chấp nhận một kịch bản như vậy và cho nhà vua quyền “vô tội cho đến khi tội trạmg rõ ràng”. Nói chung, gần một phần ba những thư tín đó tiếp tục giữ cái quan điểm tích cực và thông cảm với nhà vua trong thời gian đầu của cuộc khủng hoảng này. Họ cay đắng nói về một tội ác kinh khủng về việc bắt cóc nhà vua và hoàng gia, về những tên quái vật của nhân loại dám làm chuyện bắt cóc một vị vua đức độ nhất trong các vị vua và về một nước Pháp giờ bỗng thành trẻ mồ côi. Nhóm Jacobins tại Arras, một chi nhánh luôn luôn có sự liên hệ mật thiết với Robespierre đã vô cùng chua chát với biến cố này trong phản ứng đầu tiên của họ. Họ than vãn: “Chúng đã bắt nhà vua đi, một vị vua chỉ biết sống cho thần dân của ngài, một vị vua thường tỏ ý tôn trọng HĐCMQG, và các hành động yêu nước của ngài chứa đầy công bình và sự thật. Khi họ nghe tin rằng đã tìm được nhà vua và ngài đã trở về Paris, nhiều thị trấn tỉnh lỵ đã tự phát tổ chức ăn mừng. Chỉ trong ít phút, trước sân của thị sảnh thành phố Rouen tràn ngập số lượng người cả nam lẫn nữ bị thu hút bởi tin tức về sự kiện một cách kỳ lạ. Họ diễn tả nỗi vui mừng bằng một cuộc khiêu vũ đến tận ba giờ sáng. Khắp nơi, chuông nhà thờ đổ, pháo bông, lễ tạ ơn và những lễ hội công cộng khác đánh dấu giây phút, mà theo Limoges diễn tả, với sự chua xót đắng cay biến thành niềm hân hoan vui sướng.
Nói chung, chỉ đến cuối tháng Sáu thì người dân vùng tỉnh mới bắt đầu đánh giá đầy đủ cái ý nghĩa của các sự kiện vừa mới tiết lộ và cái khủng hoảng về lương tâm thực sự mới bắt đầu quét qua khắp nước Pháp. Khi HĐCMQG đi vào thời điểm khoảng ba tuần lễ của giai đoạn hoà hoãn, xếp đặt một sự trì hoãn về việc xét xử nhà vua, thì các tuyên bố chính thức của Hội Đồng không còn là nguồn thông tin cốt yếu  cho các tỉnh thành nữa. Các thị trấn tràn ngập thư từ và thỉnh nguyện thư chạy lòng vòng từ các câu lạc bộ và khu vực tại thủ đô và báo chí Paris ở đủ mọi xu hướng chính trị. Đặc biệt, số lượng lớn các báo chí đã mở ra rộng rãi hàng loạt các thông tin và luôn có các bình luận diễn giải. Câu lạc bộ ái quốc tại Vendôme giải thích: “Nền báo chí công cộng đã tiếp tục giúp chúng tôi phát triển ý kiến của chúng tôi. Như mọi người dân Pháp, chúng tôi theo sát cái nhịp điệu bình thường của báo chí xuất bản.  Có nhiều trường hợp chung quanh chuyện chạy trốn của vua đã bị bỏ sót hay bị kiểm duyệt trong các  văn bản đầu tiên của Hội Đồng. Chính nhờ báo chí lớn nhỏ mà người dân các tỉnh lỵ mới nghe  được về sự  đón chào với sự bất mãn của dân Paris trong chuyến trở lại Paris của hoàng gia ngày 25 tháng Sáu và những nỗ lực của nhóm Cordeliers để buộc nhà vua thoái vị. Chỉ đến lúc này họ mới biết đến bản tuyên bố của cá nhân nhà vua mà trong đó ông hàm ý phủ nhận lời tuyên thệ trước kia của ông và chối bỏ các nghị quyết của Cách Mạng mà trước đây ông đã ký thành luật. Các nhà lãnh đạo địa phương tại Toulon lần đầu biết đến lá thư của vua vào ngày 1 tháng Bẩy. Khi người dân tại Bergerac thấy lá thư đó bốn ngày sau đó, họ lập tức công khai đốt cháy một bản sao của nó tại công viên thị trấn.
Để đánh giá khối lượng lớn thông tin này, các câu lạc bộ ái quốc địa phương đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Vào giữa năm 1791 có hàng trăm các câu lac bộ như vậy được thành lập, bao gồm khoảng 400 trực tiếp quan hệ với nhóm Jacobins tại Paris. Nhưng mặc dù các câu lạc bộ vùng tỉnh theo dõi sát các cuộc tranh luận của đám Jacobins tại thủ đô, họ không bao giờ mù quáng hoàn toàn phụ thuộc vào cơ quan trung ương chính. Nhà đại lý Anh quốc William Miles đã ngạc nhiên với sự thay đổi liên tục về tư tưởng trong đủ loại các hiệp hội trên cả nước, một diễn tiến làm ông nhớ lại về “cái hành lang thì thào” của đại thánh đường Saint-Paul, cái lối đi vòng quanh bên trong cái chỏm cầu vĩ đại tại London mà khách thăm viếng có thể nghe thấy người khác nói dù đứng ở bất cứ chỗ nào. Với các câu lạc bộ Jacobins tại Paris không thể tiến tới một sự đồng thuận, các câu lạc bộ tại tỉnh thành càng trở nên độc lập hơn cả về phạm vi và về các chủ đề của cuộc tranh cãi của họ. Hàng tá các hội đoàn bắt đầu chuyền tay các bản sao của các cuộc thảo luận địa phương trong suốt mạng lưới thông tin thư tín của các câu lạc bộ tỉnh, mang đến kết quả là các tư tưởng và đề nghị được phổ biến nhanh chóng. Tại Bordeaux, Bergerac và Bar-le-Duc, các truyền đơn và thỉnh cầu mới đã đến mỗi ngày từ các hội đoàn kết nghĩa trên khắp vương quốc mà không đi qua Paris, những truyền đơn mà mỗi ngày mỗi trở nên cấp tiến hơn.
Trong giai đoạn trầm lắng của biến chuyển và sự không chắc chắn khi nhà vua dường như đã không nhìn nhận Cách mạng và HĐCMQG cũng chưa chọn lựa vị trí nào, người dân khắp nơi bắt đầu khái quát đánh giá lại những giả thuyết căn bản của Hiến Pháp mới. Không chỉ ở tại các câu lạc bộ chính trị điạ phương, mà tại các hội đồng quản trị khác và đủ loại các cuộc hội họp đột xuất cũng chuẩn bị đối  diện cuộc khủng hoảng. Người ta tự hỏi lòng, tranh cãi và rồi thông qua các chọn lựa có thể thực hiện được khi xem xét lại. Tại Toulouse, mọi người cố gắng công khai tuyên bố ý kiến của họ về vị thế của nhà vua, cho dù có phải liều lĩnh ra sao. Tại Tours, như một viên chức thị trấn diễn tả, các cuộc tranh luận chẳng bao lâu chú trọng tới những câu hỏi đáng chú ý và có tính thăm dò nhất mà chưa bao giờ  được thảo luận từ thuở ban đầu của vương triều. “Làm sao chúng tôi diễn tả được điều đó, nỗi vui mừng mà chúng tôi cảm nhận ngay giữa thời kỳ căng thẳng và sợ hãi của chúng tôi. Chúng tôi nhìn thấy đám trẻ tuổi nhút nhát lắp bắp nói lên ý tưởng của chúng, những người trẻ tuổi bạo dạn hơn diễn tả nhiệt huyết và sự dũng cảm  vể cảm giác của họ, những người trưởng thành hơn đưa ra những lời khuyên bảo có suy tư và thận trọng hơn. Thật là một cảnh tượng xúc động!
ý kiến lúc này quay qua chống lại nhà vua mạnh mẽ. Trong suốt giai đoạn then chốt từ khoảng thời gian cuối tháng Sáu khi tin tức về vụ bắt giữ tại Varennes  vừa tới cho đến giữa tháng Bẩy khi HĐCMQG ban hành các nghị quyết, chỉ chừng một phần sáu những lời chứng thực đến từ các tỉnh thành có sự thông cảm cho  một ông vua trốn chạy. Ngay cả những người tỏ ra nhiệt tình với vua cũng liên kết nhận xét của họ qua những lời bình luận nghiêm khắc với sự nối kết các hành động của nhà vua với sự nhu nhược của ông tạo nên sự chấp nhận những lời cố vấn xấu xa. Một thành viên hội đồng thị xã viết: “Nhà vua thật là nhu nhược, yếu đuối, bị lừa gạt và bị lợi dụng.” Một người khác viết: “Chúng tôi mong muốn có thể tin rằng do mềm yếu và sự mù quáng tiếp nhận đám quan lại trong triều đáng phỉ nhổ mà Louis XVI  đã bị dẫn dắt tới việc trốn chạy khỏi vị thế và bỏ rơi một dân tộc đã cho ông tràn đầy tình yêu mến. Đó không phải là ý nguyện ban đầu của nhà vua mà chỉ để làm hài lòng những ước mơ và những tham vọng không kiềm chế của của những kẻ bu quanh ông. Bởi vì cái giả thuyết này mà chúng tôi sẽ tạm giữ im lặng và chưa vội phán xét nhà vua.”
Ngược lại, gần ba phần năm số lượng thư tín đã trở nên rõ ràng tiêu cực với sự đánh giá nhà vua của họ. Với những lời lẽ biện luận đánh động sự giận dữ và đắng cay, các ban quản trị hành chánh, thành viên các câu lạc bộ và các đơn vị vệ binh quốc gia ở khắp mọi ngõ ngách đòi tra cứu về mọi khía cạnh tội lỗi của vua. Louis XVI bị tố cáo đã đào tẩu khỏi hoàng cung mà không hề nghĩ đến những hậu quả của hành động này đối với thần dân. Một người mà họ đã từng coi là người ủng hộ họ mạnh mẽ nhất đã từ bỏ vị trí của ông ta một cách hèn nhát và phản bội lại chính lời thề của ông.  Việc từ bỏ một ngai vàng danh giá nhất trên thế giới của ông đã làm nước Pháp trở nên một ngôi mộ to lớn.” Mặc cho những lời phủ nhận của Louis, hầu hết các thư tín có rất ít nghi ngờ về ý định thực sự của nhà vua chính là sự trốn khỏi nước Pháp để tìm kiếm sự trợ giúp của quân nước ngoài chống lại đất nước mình. “Vị tư lệnh tối cao của đất nước lại có kế hoạch bỏ đi tỵ nạn tại nước ngoài nơi hứa hẹn cho ông tiền bạc, trợ giúp và binh lính để chiếm lại những quyền lực tưởng tượng mà ông tuyên bố là thuộc về của ông.” “Ông ta tìm kiếm trong vô vọng việc xử dụng lưỡi gươm ngoại quốc lên đầu chúng ta. Những hành động như vậy chỉ có thể dẫn tới chiến tranh và chỉ có thể liệt vào hạng phản quốc.” “Nhà vua đã từ bỏ ngai vàng để qua lãnh địa ngoại quốc và biến đổi những cánh đồng phì nhiêu của chúng ta thành biển máu. Ông ta có lẽ đã giao phó đất nước cho sự tương tàn của nội chiến và ngoại chiến.”  Ngay cho dù ông chỉ nghe theo lời cố vấn của bọn xấu xa khác, trách nhiệm của ông ta cũng không nhẹ hơn với tội hoàn toàn phản bội lại đất nước. Chỉ có một điều quá rõ ràng là mục đích tối hậu của ông là quay trở lại làm người đứng đầu quân đội và để áp đặt lại hệ thống chế độ cũ trước đây mà thôi. Được hấp thụ một nền giáo dục với những nguyên tắc độc tài toàn trị, Louis XVI sẽ mãi mãi là kẻ thù của tự do.”
Không gì làm các nhà ái quốc tỉnh thành giận dữ hơn là lời tuyên bố nổi tiếng của nhà vua khẳng định tới toàn thế giới rằng những lời thề trước đây của ông trước Hiến Pháp là không thành thật. Theo đặc tính của Cách Mạng, thấm nhuần với những lý tưởng minh bạch và xác thực, có lẽ không tội lỗi nào lớn lao hơn việc phản bội lời thề, một việc mà chính vua Louis tự thú nhận đã làm. Họ lập đi lập lại  rằng ông là một người man trá, một kẻ bất trung, một tên bội thề. “Chúng ta ghê sợ bất cứ người dân Pháp nào lừa gạt đến mức phản bội lại lời thề hứa của mình vì đó là vi phạm các nguyên tắc thiêng liêng nhất. Ông ta quá hèn nhát, không đáng tin cậy, không ngay thẳng và bất trung, kẻ phản lại lời thề hứa, sự giả bộ đức độ của ông hoá ra chỉ là cái đạo đức giả dối nhất. Nhiều nhóm người đã trực tiếp so sánh lời thề giả dối của nhà vua với những lời thề hứa của họ trước đây, bảo đảm với HĐCMQG  rằng, không như  nhà vua, họ sẽ mãi mãi gìn gữ lời thề của họ, Đối với đám Jacobins tại Nantes, Louis đã tự bao phủ mình trong cái ti tiện mãi mãi. Họ không còn liên hệ so sánh ông với vị vua Henry vĩ đại nữa, mà với Charles IX, một ông vua Pháp bội tín, người đã mời các nhà lãnh đạo giáo phái Tin Lành tới một đám cưới tại ngày lễ Saint-Bartholomew năm 1572 chỉ để tàn sát họ.
Cùng với một đám thiểu số các nhà ái quốc tỏ ra có chút cảm thông cho vua Louis và khối đại đa số lên án ông dữ dội, một thành phần thứ tư không hề liên hệ đến nhà vua trong thư tín của họ, một sự không đếm xỉa gì đến sự hiện hữu của nhà vua mà tự nó đã là một sự ngầm kết tội chưa hề có tiền lệ. Hầu hết những người trả lời như vậy cho biết rõ rằng, bây giờ họ chuyển lòng trung thành của họ cho HĐCMQG. Nhóm Jacobin Saint-Lô tại Normandy đã diễn tả cái diễn tiến tâm lý này là cái mà họ đã trải qua vào cuối tháng Sáu sau khi họ  được biết về những biến cố trước đó. “Lúc đầu, chúng tôi sững sờ đến chẳng biết nói gì để diễn tả cảm xúc, vì một câu nói đã phá hủy mọi niềm hy vọng của chúng tôi: ‘Nhà vua đã bỏ rơi chúng ta!’ Chúng tôi do dự. Chúng tôi cố tìm hiểu điều đó có nghĩa gì? Như vậy những lời hứa hẹn của nhà vua là tào lao sao? Những lời thề thốt của ông chỉ là mhững lời lẽ vô giá trị sao? Nhưng rồi chúng tôi nhận ra rằng quý vị đại biểu đã lãnh trách nhiệm. Tiếng nói của tổ quốc vẫn còn được nghe thấy. Và chúng tôi lập lại lời thề trang nghiêm chấp nhận những nghị quyết mới. Vận mệnh cùa những quốc gia tự do không còn bị ảnh hưởng bởi những hành động của các vị vua.”  Đã đến lúc chính các vị đại biểu được coi như những người cha của đất nước, cha của dân tộc, những người lấy lại tự do, những biểu tượng về tình cha con đã từng được dành riêng cho nhà vua. Các bức thư chứa đầy những sự so sánh các đại biểu với những khuôn mẫu anh hùng của Hy Lạp và La Mã cổ xưa: họ là những Lycurgus mới mang luật lệ đến cho nhân dân; họ là những nghị sĩ La Mã chiến đấu chống lại Nero và Catiline bạo chúa. Những người khác lại dùng những liên hệ tôn giáo trong sự khen ngợi HĐCMQG: Công việc của các vị có bàn tay của Đấng Toàn Năng nâng đỡ. Ngay cả trong giờ lâm tử, họ cũng hướng đầu quay về  Paris và loan báo những lời lẽ vì Thiên Chúa và HĐCMQG Họ tuyên bố: “Trong những hoàn cảnh hiện tại, chúng tôi sẽ đi theo các vị cha già dân tộc  với bất cứ quyết định nào của các vị, ngay cả việc nhà vua bị xét xử hay truất phế. Chúng tôi sẽ giữ nguyên niềm tin tưởng đối với đất nước, luật pháp và giới chức hành pháp; tuy nhiên các vị nên chọn nắm lấy thẩm quyền hành pháp đó. Chúng tôi để cho qúy vị toàn quyền hành động và phán đoán nên trừng phạt hay ân xá cho các tội lỗi của vua Louis XVI.”
Nhiều lời lẽ tuyên bố vô cùng mủi lòng diễn tả một sự vỡ mộng sâu đậm về nhà vua. Nhóm Jacobins ở làng La Bassée ở phía Bắc nước Pháp viết rằng cho tới ngày 21 tháng Sáu, họ vẫn coi vua Louis XVI vừa là một nhân vật lớn và một vị vua vĩ đại nhất trong các vua trị vì. Ông dường như khác xa biết bao so với 65 vị vua tiền nhiệm. Nhưng chỉ trong một ngày, qua một hành động đơn lẻ, vị vua này hoàn toàn mất hết mọi danh tiếng. Cái tính trầm lặng nổi bật của Louis, một thời được giải thích là cái trầm lặng của sự khôn ngoan và cẩn trọng, giờ bị coi là ngu ngốc hay phản bội. Ngay cả những danh xưng được dùng cho biểu tượng nhà vua cũng bị thay thế đáng buồn từ những danh từ : “hoàng thượng, Bệ Hạ hay đức vua” trở thành cách gọi tên cộc lốc “Louis hay Louis de Bourbon”, chứng tỏ một sự kiện là nhà vua không còn được coi như hiện thân của một ngôi vàng vĩnh cửu, mà giờ chỉ là một cá nhân đầy lỗi lầm nếu không phải là hư hỏng đồi bại. Trong sự chối bỏ lời hứa và vi phạm lời tuyên thệ trang nghiêm, Louis đã từ bỏ cái lý công chính của người dân đại lượng và nhạy cảm, những người đã luôn luôn tôn thờ các vị vua của họ như thần tượng, yêu mến vua mặc cho các tật xấu của các ngài. Quả thật, hình ảnh thần tượng, trước đây vua là thần tượng của người dân Pháp, giờ thần tượng đã bị đập tan và phá hủy mãi mãi trong lời biện giải của các văn bản thư tín vùng tỉnh.
Một ít người viết thư còn bắt đầu viết lại lịch sử của Cách Mạng và vị thế của nhà vua trong trang lịch sử đó. Những người đứng đầu một thị xã nhỏ bé ở miền Trung nước Pháp đã tự hỏi rằng Louis có thể bị thay thế không với nguyên tắc độc tài chuyên chế? Và họ đã viết một bài dài diễn giải về 2 năm kể từ 1789 mà trong đó nhà vua được hình dung như đang cố  tạo nên một thành lũy của chính sách độc đoán ngay trong lòng của  chính HĐCMQG. Chính vua là người đã dùng vũ lực ép buộc các đại biểu phải lánh nạn trên sân Tennis. Có thể ngày hôm nay, Paris đã là một nghĩa trang lớn, nếu không có các hành động can đảm của cư dân, những người phá ngục Bastille. Đối với nhóm Jacobins ở Versaille, lúc này dường như ông vua lường gạt phải chịu trách nhiệm về tất cả những khó khăn làm nước Pháp đau khổ trong 2 năm qua, ngay khi ông chuẩn bị cuộc tàn sát dân tộc ghê rợn, một dân tộc đã luôn luôn  bao phủ ông với lòng tử tế. Người dân thành Alès phía Nam nước Pháp nhắc lại: “Mới đây thôi, chúng tôi thành lập một ban hợp ca hát bài ca ngợi nhà vua. Vì quá tin tưởng, chúng tôi coi ông là người hoàn trả lại quyền lợi cho chúng tôi. Nhưng thay vì là người cha của chúng tôi, ông muốn là một bạo chúa, mà chúng tôi có thể gọi là tên đao phủ. Vâng thưa quý vị! Trái tim chúng tôi vỡ nát và mắt chúng tôi chứa đầy máu lệ.

Quân chủ hay cộng hoà?


Hầu hết những nhóm gửi lời khai chứng thực vào cuối tháng Sáu đầu tháng Bẩy đã không có một tư thế trực tiếp về việc nên làm gì với nhà vua đều hứa tuân thủ theo quyết định của HĐCMQG, cho dù đó là quyết định như thế nào.  Nhưng có một phần tư trong số các thư tín còn đi xa hơn. Họ cảm thấy bị phản bội nặng nề. Họ coi hành vi của Louis thật đáng khiển trách đến nỗi họ không bao giờ còn có thể tín nhiệm ông sẽ có trách nhiệm nào nữa trong chính quyền, và họ thúc giục HĐCMQG ra tay chống lại nhà vua. Vào khoảng một nửa nhóm này dường như đã sửa soạn để duy trì Hiến Pháp hiện tại. mặc dù họ khuyến khích Hội Đồng truất phế nhà vua khỏi ngai hay đưa ông ra xét xử trước tổ quốc. Các người lãnh đạo thị trấn Montauban thấy đau lòng vô cùng với những bước đi mà họ sẽ phải làm. Họ vẫn yêu thích chế độ quân chủ lập hiến, nhưng họ nói nước Pháp có thể làm gì khi phải đối diện với một người từ chối không muốn thi hành luật pháp? Một ông vua trốn chui trốn nhủi từ bỏ cái vị trí cao cả của mình do Hiến Pháp đặt ông ta lên, người vi phạm những nghị quyết mà ông đã chấp nhận, người giẫm đạt dưới chân những lời tuyên thệ thiêng liêng nhất của mình, người cho thần dân một gương xấu về sự lừa gạt. Một người như vậy là một hình tượng thật đáng buồn trước mắt chúng tôi.” Cuối cùng, họ trông cậy vào một lý thuyết cam kết về vương quyền để minh chứng cho việc tạm ngưng quyền xá miễn không thể  bị truy tố: “Một vị vua  vi phạm hiến pháp là đã phá hủy giao ước xã hội mà trong đó quyền cai trị của vua đã được ghi chép.” Nhóm Jacobins tại Limoges quay lại với một lý luận về cảm xúc trực tiếp hơn: “Louis XVI không thể được tiếp tục ngồi trên ngai nữa vì hình ảnh ông ta không còn ngự trị trong trái tim của nhân dân, những người khinh bỉ ông.” Tại Nantes, một bộ phận chính quyền đề nghị một phiên bản Pháp về cuộc Cách Mạng Vinh Quang năm 1688 khi quốc hội Anh Quốc truất phế vua James II và thay thế ông bằng William và Mary. Họ viết: “Người dân Anh đã dạy chúng ta rằng truất phế một ông vua bất tín với luật pháp của đất nước mình thì không phải là lật đổ chế độ quân chủ.”

Tuy nhiên, tất cả những đề nghị như vậy phơi bày ra một loạt các khó khăn. Có thể nào HĐCMQG tự mình tuyên bố truất phế Louis như kiểu các công dân thành Nantes ủng hộ, hay là trước hết, phải chính thức  xét xử nhà vua trước một phiên toà tối cao mới vừa được thành lập tại Orléans? Chuyện gì sẽ xảy ra giả như phiên toà phán quyết nhà vua vô tội? Và nếu nhà vua bị truất phế, ai sẽ là người thay thế vị trí đó? Người nối nghiệp hợp pháp của Louis XVI. thế tử Louis-Charles chỉ mới có 5 tuổi, và như vậy vấn đề lựa chọn một nhiếp chính đáng tín nhiệm dường như đáng lo sợ. Người hầu như chắc chắn sẽ là nhiếp chính có lẽ là quận công d’Orléans, một người bà con của vua ủng hộ Cách Mạng. Nhưng nhiều nhà ái quốc cũng không tin tưởng  viên quận công giống như  họ bất tín nhiệm Louis.  Có lẽ khi đối diện với những khó khăn như thế, việc sửa chữa Hiến Pháp được ưa thích hơn. Lại có một nhóm nhỏ thư tín có đủ loại đề xuất khác nhau để giới hạn mạnh mẽ quyền lực của vua, để ông trở thành một bóng ma quyền lực của chính ông, như các viên chức tại Brest đề nghị. Ban lãnh đạo thành phố Lyon viết: “Người ta sẽ không bao giờ thấy Louis lấy lại niềm tự tin mà ông ta đánh mất. Nếu chúng ta cần có một nhà vua nối nghiệp ngồi ngủ trên ngai, nhà vua như thế không bao giờ có thể có nhiều quyền hành để ông ta lạm dụng.” Một số đề nghị chấm dứt quyền phủ quyết lập pháp của nhà vua, một quyền hạn mà họ không thể nào tin là có thể đặt trong tay một ông vua hèn nhát và lừa gạt.”  Những người khác bình luận rằng nên đưa quyền lực thực sự vào tay một nội các với các bộ trưởng được chọn bởi cơ quan lập pháp hoặc ngay chính người dân, đưa nước Pháp tiến gần hơn với hệ thống quốc hội Anh Quốc.  Nhóm Jacobins tại Dijon viết: “Nếu chế độ quân chủ cần được duy trì, nước Pháp phải kiềm chế quyền hạn của nó để mọi người dân sẽ luôn luôn được bảo vệ khỏi sự đe doạ của chế độ độc tài.”

Nhưng thực ra nước Pháp có nên bảo tồn chế độ quân chủ? Rõ ràng một số phe nhóm trong cả nước, chẳng hạn như câu lạc bộ Dole đã nghiêm túc cứu xét bước kế tiếp trong một chuỗi lý luận để cắt bỏ cái nút thắt Gordian và hoàn toàn xoá bỏ chế độ quân chủ. Trong cái bối cảnh của Âu Châu thế kỷ 18, đây là một đề xuất đáng kinh ngạc, tạt vào mặt tất cả các tư tưởng đương thời, các trí tuệ chung như là một sự nguy hiểm và một chế độ cộng hòa thì không thể thực hiện trong một lãnh thổ rộng lớn và đông dân như Pháp. Chỉ có một số rất nhỏ nhoi các phe nhóm đã sẵn sàng nắm lấy một vị trí tập thể như vậy. Những người đó đã tự chứng minh trong những thời kỳ hùng biện với những lời tố cáo chống lại Louis XVI cùng toàn thể chế độ cũ thường tìm kiếm cảm hứng từ những nhân vật anh hùng cổ điển của nền cộng hoà La Mã. Dường như không ai nói đến nền cộng hòa Mỹ gần gũi nhất, một nền cộng hòa bị coi là quá thô thiển và dân cư ít ỏi so sánh với nước Pháp.

Vệ binh quốc gia tại một thị trấn nhỏ Saint-Claud ở miền Đông Nam nước Pháp đã nổi trận lôi đình chống lại ông vua man rợ của họ, một ông vua đã bán đi sự tín nhiệm của ông, vinh quang của ông và tổ quốc của ông cho bọn ngoại quốc trong khi ấp ủ trong lòng một kế hoạch kinh khủng trong việc giám sát sự tàn sát người dân Pháp. Họ bèn kê khai ra: “12 thế kỷ chịu đựng tai hoạ dưới quyền lực tuyệt đối của vua chúa đã hủy hoại trái đất,”  trước khi họ thúc giục HĐCMQG lật đổ triều đại Tarquins tân thời, (Tarquins là triều đại các vị vua La Mã cuối cùng) để thiết lập một nền cộng hòa. Các thành viên câu lạc bộ ở thành phố Niort lân cận thì đã nêu lên một lý thuyết giao ước. “Louis XVI đã vi phạm hiệp ước mà ông đã ký kết với đất nước. Vì ông đã phản bội lời thề của ông, như vậy hiệp ước đã bị xé bỏ và vì thế đất nước có toàn quyền kết thúc sự nghiệp chính trị của ông một cách không thể tranh cãi.” Và rồi họ kết luận: “Nếu chúng ta phải chiến đấu với Tarquins, đừng bao giờ quên rằng tất cả mọi người dân Pháp thực sự đã tuyên thệ với lời thề của Brutus (Brutus là một thủ lãnh La Mã dẫn đầu sự lật đổ Tarquins).” Vệ binh tại thành Arras thì cất cao giọng: “Hỡi công dân Pháp và đồng hương, giờ đây định mệnh đang mở ra. Các biến cố lớn lao đã tiết lộ ra sự phản bội tày trời, nhưng một tội ác xấu xa được bí mật  âm mưu vẫn có thể mang lại một may mắn không kỳ vọng trước. Chúng ta hãy quên đi là ta có một ông vua. Hãy coi vua là chuyện thời quá khứ.”

Làm sao những nhà ái quốc ở một số thành phố tỉnh lỵ nhỏ bé của Pháp lại có những thế đứng như vậy có vẻ không rõ ràng. Trong trường hợp của Clermont-Ferrand, bà Marie-Jeanne Roland, một nhà ái quốc Paris có liên hệ với cánh Cordeliers được biết là đã thường xuyên gửi lời cố vấn đến việc nuôi dưỡng, ủng hộ một nền cộng hòa tới một trong các vị lãnh đạo yêu nước của họ. Khó có thể tin rằng các đảng viên của tư tưởng cộng hòa tại Arras và Chartres chịu ảnh hưởng dưới những lời hùng biện của Robespierre và Pétion, các đại biểu cấp tiến của họ. Nhưng những người dân thị trấn khác dường như đã chấp nhận những vị thế đó một cách độc lập trước khi các báo cáo và thỉnh nguyện thư từ Paris đến tai họ. Và quả nhiên, chuyện gây cảm hứng đơn lẻ  quan trọng nhất trong vùng quê làm sụp đổ triều đại quân chủ không đến từ Paris mà từ Monpellier.

Nguồn gốc của tư tưởng cộng hòa trong cái thủ phủ tỉnh lỵ cỏn con gần Điạ Trung Hải vẫn còn tồn tại bí mật. Trong những văn bản tấu trình những bất công 1789 do nhiều nhà cấp tiến tương lai ký, dân thị trấn tự tiết lộ rằng họ luôn nhiệt tình ủng hộ nhà vua. Động tác đầu tiên tẩy chay vương triều xảy ra vào 27 tháng Sáu, một ngày sau khi thị trấn biết sự kiện bắt giữ nhà vua tại Varennes và hầu như chắc chắn trước khi các bản thỉnh cầu thư về cộng hòa từ Paris gửi đến. Bản đề nghị do Jacques Goguet, một y sĩ 24 tuổi chỉ vừa mới tốt nghiệp tại trường y khoa Montpellier đem trình lên  hiệp hội ái quốc địa phương. Bản đề nghị được đại đa số các lãnh đạo thành phố chấp nhận rất nhiệt tình, không chỉ bởi câu lạc bộ mà gồm cả ban quản trị thành phố, quận lỵ và của các ban ngành. Trong phiên bản cuối cùng được chấp thuận ngày 29 tháng Sáu, thỉnh cầu thư gửi tới HĐCMQG được thảo luận chặt chẽ và xúc tích. Các hội viên tranh luận: “Nhà vua hiện tại thật hèn hạ, và chúng tôi quá khinh bỉ ông ta đến không còn ghét hay sợ ông nữa. Chúng tôi để cho luật pháp toà án xử dụng lưỡi gươm trả thù. Vì vậy, chúng tôi chỉ yêu cầu rằng người dân Pháp sẽ không còn một vị vua nào khác ngoài chính chúng tôi làm chủ.” Lại một lần nữa, lời thỉnh cầu được biện minh bằng sự liên hệ tới thời cổ đại: “Đối với chúng tôi để trở thành công dân La mã thực thụ, tất cả những gì tồn tại là sự thù ghét và việc  trục xuất vua quan. Sự thù ghét thì đã là sự thật. Chúng tôi chờ hành động của các vị để bảo đảm điều thứ hai (việc chấm dứt vương triều).” Rồi họ kết luận: “Ngày hôm nay, mọi thành kiến đã bị phá hủy và người dân đã được khai sáng. Ý kiến quần chúng cho phép các ngài, yêu cầu các ngài đưa chúng tôi ra khỏi tội ác của vua chúa.

Thỉnh cầu thư không chỉ được gửi đến Paris nơi được đọc trước mặt nhóm Jacobins vào ngày 6 tháng Bẩy, mà hàng tá các bản sao được truyền tay trực tiếp qua mạng lưới quốc gia của các câu lạc bộ ái quốc. Bất cứ nơi nào nhận được thì dường như nó là chủ đề của các tranh luận nghiêm trọng và nhiệt tình nhất. Bordeaux có được nó rất sớm vào ngày 2 tháng Bẩy. Toulouse và Aix-en-Provence đọc nó vào 2 ngày 4 và 5 tháng Bẩy. Tới 10 tháng Bẩy thì nó tới Strasbourg, một vùng Đông Bắc xa xôi. Poitiers ở miền Tây nước Pháp bắt đầu tranh luận về nó 2 ngày sau đó, trong khi Bar-le-Duc ở gần Varennes đọc nó vào ngày 13 tháng Bẩy và Limoges ngày 15. Cuối cùng, được biết là chỉ có 5 câu lạc bộ đã hoàn toàn thừa nhận bản thỉnh cầu trên. Nhiều nơi khác lúc đầu tham gia, nhưng rồi họ xem xét lại và quyết định chờ đợi  quyết định của HĐCMQG hay lựa chọn cách phế bỏ vị vua hiện tại nhưng không từ bỏ nền quân chủ.  Nhưng ngay cả khi đa số chối bỏ thỉnh cầu thư của Montpellier, một thiểu số vẫn mạnh mẽ thường xuyên dấy lên việc ưa thích một nền cộng hòa. Trong cả hai nơi Poitiers và Bordeaux, các đội ngũ theo cộng hòa tranh luận cho lập luận của họ hùng hồn, và những người này có thể đã thắng nếu như cuộc tranh luận không bị chấm dứt vì có nghị quyết của HĐCMQG tới miễn tội nhà vua.

Nhiệm vụ của chúng ta là tuân thủ


Tin tức về quyết định của HĐCMQG và vụ việc bắn giết tại Champ de Mars đã đột ngột kết thúc  giai đoạn căng thẳng tái thẩm định chính trị. Đối diện với cuộc khủng hoảng mới này, các nhân sĩ địa phương xác định sự gắn bó của họ với những nghị quyết tháng Bẩy hầu như không có bất cứ ngoại lệ nào. Không có bất cứ nơi nào bên ngoài Paris mà các nghị quyết trở thành mục tiêu của các cuộc xuống đường hay các vụ bạo động. Các vị đại biểu đã mở màn cho cuộc Cách Mạng và là người dẫn dắt đất nước thành công qua nhiều khó khăn trở ngại trước đó, giờ tiếp tục chỉ đạo với sự tôn trọng lớn lao và có uy tín dưới con mắt các người yêu nước vùng tỉnh trong sự buồn rầu thất vọng của nhóm người Paris cấp tiến và câu lạc bộ Cordeliers.

Tuy nhiên, một số đông công dân đã thật đau lòng với các vấn đề bị đe doạ. Trong các bức thư gửi đến HĐCMQG, dân tỉnh lỵ cùng các ban quản trị địa phương thường trích dẫn đến các bài diễn văn của cá nhân các đại biểu, là những diễn văn đã được đọc, so sánh và cân nhắc cẩn thận. Robespierre, Vadier, Salle, Duport và Barnave có trong danh sách của một thị trấn, chứng tỏ rằng sự lựa chọn các diễn giả trích dẫn gồm cả hai phía của cuộc tranh luận đã được cứu xét hợp lệ. Có vài nhóm đã rà soát lại từng bước một toàn thể diễn tiến của lý luận, xem xét tất cả các cách giải quyết có thể xảy ra đối với cuộc khủng hoảng, loại bỏ những phương án tỏ ra không thể thực hiện, và rồi họ trình lên phản ánh của riêng họ cho Hội Đồng quyết định cuối cùng. Các cử tri đi bầu tại một thị trấn nhỏ đã viết khi họ suy nghĩ về cái tình thế khó xử không lường trước này: “Có quá nhiều phức tạp. Nhà vua dường như có tội. Tuy nhiên ông ta lại có quyền miễn tội hợp pháp.  Vậy làm sao ông có thể bị tố cáo? Làm sao có thể phán xét ông?”

Việc chấp thuận quyết định của Hội Đồng lại không hề đồng nghĩa với việc ủng hộ nhà vua. Các tỷ lệ thông cảm cho nhà vua tiếp tục tụt dốc thê thảm, hạ xuống từ 31% từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng, còn 17% ở giai đoạn lưng chừng, tới  con số thảm hại 7% vào gần cuối tháng Bẩy. Ở vào giai đoạn cuối cùng, hiếm thấy ai còn nhắc nhở đến câu nói tha thứ cũ là “một vị vua tốt bị cố vấn tồi.’ Chỉ có một lá thư duy nhất thuộc  một thị trấn nhỏ miền Trung nước Pháp có nhắc nhở đến đặc tính thiêng liêng của vua.  Để chắc chắn hơn, chỉ một phần năm thư viết  từ giữa tháng Bẩy về sau công khai kết tội Louis, nhưng gần ba phần tư không hề đá động gì tới vua cả. Nhiều nhà lãnh đạo tỉnh lỵ rõ ràng đã ưa thích cách dùng tấm màn im lặng  bao phủ lên màn kịch đáng buồn của việc nhà vua chạy trốn hơn. Đối tượng chính yếu của đại đa số người viết thư là để tái xác định sự trung thành của họ với HĐCMQG như  giới chức thẩm quyền cao nhất trên đất nước và đại diện tối cao của ý nguyện chung. Một lần nữa, các đại biểu được ca ngợi cao ngất trời như các cha già dân tộc hay như các anh hùng theo kiểu mẫu anh hùng La Mã xưa. Cho dù những quan điểm trước đây của các nhà ái quốc địa phương có là gì chăng nữa, lúc này họ cảm thấy ràng buộc vào bổn phận phải đi chung với HĐCMQG. Nhóm Jacobins ở một thị trấn miền Bắc Brittany viết:  “Tuân thủ là bổn phận của một công dân tốt, và giờ đây tất cả chúng ta hãy làm gương.” Hầu như đồng bào các nơi của họ đều đồng ý: “Các ngài đã lên tiếng và một tiếng hô lớn đã vang lên trên khắp miền đất nước : ‘Đó là luật pháp!’ Và tất cả chúng ta sẵn sàng chết cho luật pháp.” Ngay cả khi trước đó họ đã tranh luận cho một biện pháp mạnh mẽ hơn chống lại nhà vua, ý nguyện chung của cả nước giờ đã được Hội Đồng quyết định và cái trước đây là một sai lầm, giờ có thể trở thành tội ác.

Khi đưa ra những bình luận về tình trạng chính trị và quyết định của HĐCMQG, hầu hết các thư tín đã nói rất ít về tình yêu mến của họ đối với nhà vua hay nền quân chủ hơn là nỗi lo sợ về một nền cộng hòa và về sự phẫn nộ đối với các hành động nổi loạn của đám cộng hòa tại Paris. Họ quay đi quay lại với những lập luận của chính HĐCMQG, nhiều người đổ lỗi cho một loạt các triết gia từ  Montesquieu tới Rousseau, rằng một chế độ cộng hòa có lẽ không thực tế và không thể thực hiện tại Pháp. Một chính quyền cộng hòa như thế có thể khả thi ở những bang tỉnh thành phố, đất nước nhỏ bé như Thuỵ Sĩ hay Hy Lạp cổ xưa, nhưng với một quốc gia rộng lớn, điều đó sẽ dễ dàng dẫn tới vô tổ chức và hỗn loạn. “Đất nước này quá to lớn để chuyển đổi sang thể chế cộng hòa. Sớm hay muộn, các quyền lực lân bang sẽ xâu xé nó thành nhiều mảnh. Những ai đề xuất một nền cộng hòa đã chưa từng cứu xét đến những bài học kinh nghiệm, đến hợp lý của lịch sử, đến những hậu quả có thể xảy ra, đến những dữ kiện về phong tục Pháp, dân số, địa lý và thái độ của dân.” “Chúng tôi tin rằng trong một đất nước  có cân nhắc với một dân số lớn lao, chắc chắn phải có một trung tâm cho sự đoàn kết, một thẩm quyền hành pháp tối cao độc nhất mà từ nơi đó, giống như sức đẩy Archimedes,  với đòn bẩy của vương quyền, tất cả mọi thành phần giai cấp  bao la của đất nước có thể tiến lên.

Nhiều người dân Pháp dường như rất sợ hãi cảnh nội loạn  có thể sẽ nổi lên trong nước nếu HĐCMQG can thiệp làm xáo trộn chế độ quân chủ. Hầu hết các phong trào chống đối tại Paris đã nhận được một sự đón nhận rất tiêu cực tại các tỉnh lỵ. Đã có rất nhiều sự tham khảo về sự dấy loạn của đám người tại Paris, những sự kiện mà dường như chỉ để chứng tỏ rõ ràng về những mối nguy hiểm khi đặt quyền lực vào trong tay của người dân trong sự vắng bóng một giới chức thẩm quyền trung ương độc nhất. Lời thỉnh cầu của người dân Paris làm chúng tôi run lên vì tức giận: “Lòng chúng tôi tràn đầy lo lắng. Chúng tôi e ngại rằng dưới sức ép của cái đám đông lầm lạc tự cho mình là tiếng nói của quốc gia một cách sai trái này, các ngài sẽ bị buộc phải hy sinh các nguyên tắc của các ngài.” Có những lời lẽ kết tội bất tận về cái địa ngục  và là tai hoạ đáng ghê sợ của tình trạng vô chính phủ, về sự giận dữ của thường dân mất phương hướng. Nhiều tỉnh lỵ đã chia xẻ quan điểm tình nghi của các đại biểu rằng sự phản đối tại thủ đô là do bọn phản Cách Mạng hay thế lực nước ngoài kích động với âm mưu loại bỏ Hiến Pháp. “Ẩn núp bên trong mặt nạ yêu nước, bọn âm mưu như vậy nhằm mục đích gây sự chia rẽ bất hoà trong chúng ta. Chiêu bài vô chính phủ đã được cổ động bởi bọn quái vật, bọn phản quốc, bọn giáo sĩ ngoan cố, những kẻ thù của đất nước tự khoác cho mình chiếc áo choàng yêu nước chỉ để nhắm lật đổ Hiến Pháp và đưa đẩy đất nước vào tranh giành hỗn loạn.”

Một thiểu số chừng một phần tám các phe nhóm tỉnh lỵ gửi đi những bức thư đề nghị rằng họ không hoàn toàn đồng ý với quyết định của Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia mặc dù cuối cùng họ cũng được thuyết phục chấp nhận. Trong vài trường hợp, người dân địa phương lúc đầu chống đối các nghị quyết đó và chỉ chấp thuận sau khi đã nghiên cứu cẩn thận các tranh luận. Một số viên chức thành thật viết: “Nếu chúng tôi nghe theo ý chúng tôi thì một quyết định có hành động đối với nhà vua có lẽ sáng tỏ hơn. Nhưng các nhà lập pháp bị buộc phải chống lại cảm tính mà người thường dễ dàng bị khuất phục.” Cuối cùng, Hội Đồng đã làm họ tin rằng một thể chế quân chủ lập hiến là hệ thống duy nhất có khả năng giữ lại nămg lực và tính đoàn kết cần thiết cho sự ổn định của một quốc gia rộng lớn và cung cấp được một bức tường không thể vượt qua chống lại ảnh hưởng của các phe phái.  Một nhóm công dân khác đồng ý: “Sau khi nhà vua đáp lại tình yên thương và sự tin trưởng của chúng ta  bằng sự vi phạm vào những cam kết thiêng liêng nhất của ông, tất cả chúng tôi hy vọng toà án đất nước sẽ cai trị chống lại tội ác. Nhưng HĐCMQG đã đi quá khỏi sự cứu xét và những nhiệt tình của thời điểm của biến cố và đã đưa ra được một văn bản mới trên nền tảng luật pháp quốc gia qua nghị quyết ngày 15 tháng Bẩy.” Lãnh đạo của một làng nhỏ tại Bordeaux thẳng thừng hơn: “Lúc đầu chúng tôi không chấp nhận nghị quyết của các vị vì coi nó xung đột với các nguyên tắc chung. Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, chúng tôi thà chịu đựng một ông vua bất tài và lừa gạt còn hơn bị buộc phải đối mặt với sự kinh khủng của nội chiến ngoại chiến.”

Những người khác tuyên bố gắn bó với luật pháp ngay trong lúc vẫn nhấn mạnh sự hoài nghi sâu sắc của họ liên quan tới quyết định của HĐCMQG. Theo quan điểm các viên chức ở hải cảng Brest trong vùng Breton, đất nước giờ có lẽ được đặt trong tay của một người mà qua sự chạy trốn và bản tuyên bố của ông đã tự tố giác ông là kẻ thù lớn nhất của chúng ta. Một thị trấn khác trong vùng Brittany đồng ý chấp nhận Louis là vua của họ chỉ vì: “Chúng tôi được lệnh phải chấp nhận theo luật mà thôi.”  Còn các vị lãnh đạo tại Montpellier, những người mạnh mẽ thúc đẩy cho một nền cộng hòa  đã chấp nhận nghị quyết với sự mỉa mai: “Ở trong xã hội, người ta chỉ có thể lựa chọn giữa các loại xiềng xích khác nhau mà thôi.” Trong tình thế hiện tại, họ chẳng có lựa chọn nào khác ngoài việc đặt mình bên dưới sự trói buộc đầy vinh dự và hữu ích của luật pháp. Một vài phe nhóm tỏ rõ rằng sự chấp nhận của họ đối với nghị quyết của Hội Đồng có tính đột xuất và có điều kiện tùy theo hành vi tốt xấu của nhà vua. Họ sẽ chỉ chấp nhận khi nhà vua tiếp tục xử dụng uy quyền của mình để duy trì Hiến Pháp. Họ chỉ chấp nhận khi ông ta công nhận rằng làm vua là để phục vụ nhân dân chứ không phải ngược lại.” Có một số rất nhỏ chỉ trích Hội Đồng thậm tệ.  Nhóm Jacobins tại Périgeux thì không chắc rằng những nghị quyết trước đây có phù hợp với tiếng nói của lương tâm và ý nguyện chung của dân tộc không. Họ cảnh báo các đại biểu đừng bao giờ quên rằng: “các vị chỉ là một bộ phận của ý dân.” Nếu họ muốn được tuân thủ trong tương lai, họ không được bỏ qua sự quan trọng của việc duy trì niềm tin tưởng chung của nhân dân. Quả thực, trên dưới một tá các phe nhóm những người đáp trả chỉ đồng ý chấp nhận nghị quyết nếu Hội Đồng thấy ngay sự thay thế chính Hội Đồng. Đây là thời cao điểm mà các đại biểu nên giã từ trở về nhà và để những người khác thay thế. Ngược lại, như một thị trấn cảnh báo thẳng thừng: “Sư kiên quyết của các ngài sẽ bị coi là ngoan cố.”


Sự chạy trốn của Louis XVI tới Varennes đã làmrung động xã hội vùng miền nước Pháp tới tận gốc rễ. Vào cuối thời kỳ hoang mang lưng chừng và sau những cuộc tranh luận căng thẳng, các ý kiến từ từ biến thành chống đối mạnh mẽ sự cai trị của nhà vua. Những diễn văn mà ít nhất cũng hiểm độc như những diễn văn phát xuất từ Paris đã lan tỏa khắp nước.  Mặc dù chỉ một thiểu số nhỏ thị trấn đã có vị thế tập thể đồng ý truất phế nhà vua và tạo dựng nền cộng hòa, các cá nhân đã chuyển biến qua vị thế đó đã xuất hiện và đã đẩy mạnh quan điểm của họ tới hầu như mọi vùng miền đất nước. Khắp nơi, người ta tranh cãi về tư tưởng và cứu xét tới khả năng của một sự thay đổi cả nền tảng của chính quyền, ngay cả khi một sự thay đổi như vậy đã bị đa số từ chối. Phần lớn các phe nhóm gửi văn bản chấp nhận đã công khai hay ngầm bày tỏ rằng họ được chuẩn bị để tuân thủ quyết định của Hội Đồng, ngay cả khi quyết định đó liên quan tới việc chiếm quyền lực vĩnh viễn bởi chính Hội Đồng.  Quả thực không hề có một bức thư đơn lẻ nào lên án việc tạm ngưng quyền hạn của nhà vua vào ngày 21 tháng Sáu. Mười bốn tháng sau, khi một  tân Hội nghị Quốc Gia  tạo nên nền cộng hòa, đa số người dân Pháp cả ở tỉnh lỵ lẫn Paris có lẽ đã suy nghĩ lại về khả năng có thể sống trong một nước Pháp không cần có nhà vua hiện tại, hay có lẽ bất cứ ông vua nào nữa.