Showing posts with label 6. Show all posts
Showing posts with label 6. Show all posts

Cuộc Cách Mạng Pháp 1789-1799

                                                             by Peter McPhee


Chương 6:  Cách Mạng trong vị thế thăng bằng: 1793

 Trước tháng Tám 1792, cánh Girondins đã có thể trách cứ Louis cho hànhvi đảo ngược quân sự. Lúc này, bọn họ có thể tố cáo ai? Họ chuyển sang một loại dê tế thần mới. Đó là đám ‘sans-culottes’ và cánh đồng minh Jacobins của đám này, những người mà họ công kích như bọn vô chính phủ và bọn cơ hội đòi bình đẳng. Đến cuối năm, một tay ký giả nổi tiếng và là  một đại biểu thuộc cánh Girondins tên Antoine-Joseph Gorsas đã dùng một bài nhại lại lời bài ca Marseillaise như một bài nhạc mừng Giáng Sinh để công kích  cánh Jacobins:
Lũ con lạc loài vô chính phủ đang tiến tới,
Và ngày ô nhục đang đến với chúng ta…
 Nhân dân lại mù loà trong cơn phẫn nộ,
Họ giơ cao những lưỡi dao đẫm máu
Ngay trong cái thời kinh khiếp và đầy tội ác
Để phục vụ cho những mưu đồ bất công đốn mạt
Chẳng thèm đếm xỉa đến tội lỗi ô uế
Hay đếm thử số xác nạn nhân những con mồi của họ.”
Đối với Vergniaud, quyền bình đẳng cho con người như một món vật xã hội gồm có duy nhất trong sự bình đẳng của  các quyền hợp pháp của ông. Và Brissot đã đưa ra một “lời kêu gọi tới tất cả các nhà Cách Mạng Pháp” vào tháng Mười để cảnh báo chống lại “loại rắn độc vô chính phủ”, khiển trách nhóm Jacobins như một bọn phá rối muốn cào bằng mọi thứ: tài sản, thú vui, giá cả nhu yếu phẩm, những dịch vụ đủ loại giúp cho xã hội.
Trong khi Brissot phóng đại quá đáng về những động cơ thúc đẩy việc ‘cào bằng’ của phe nhóm Jacobins, họ chắc chắn uyển chuyển hơn trong việc sẵn lòng kiểm soát tạm thời về kinh tế, đặc biệt trong giá cả thực phẩm. Vào cuối năm 1792, Robspierre đã đáp lại việc nổi loạn về thực phẩm tại tỉnh bang Eure-et-Loire bằng việc kiên quyết rằng:  Quyền căn bản nhất trong mọi quyền hạn là quyền được sống còn. Bởi thế luật pháp nền tảng nhất của xã hội là điều luật bảo đảm mọi phương tiện để tồn tại cho mỗi con người; mọi luật lệ khác phụ thuộc vào điều luật này.’ Tương tự, người bạn đồng minh trẻ của ông, Louis-Antoine de Saint-Just, người được bầu chọn vào đại biểu Hội Nghị ở tuổi 25 ở vùng tiền tuyến phía Bắc tỉnh bang de Asine cũng khẳng định rằng: ‘chỉ trong một giây phút đơn lẻ, bạn có thể cho người dân Pháp một quê hương thực sự bằng việc ngăn chặn những tổn thất của lạm phát, bảo đảm sự cung cấp thực phẩm và liên kết mật thiết vấn đề an sinh vào với tự do của họ.’
Qua đầu năm 1793, biện luận của phe Girondins ngày càng trở nên rỗng tuếch trong bối cảnh khủng hoảng quân sự, và hầu hết các đại biểu không phe phái đã ngả theo những đề xuất khẩn cấp của nhóm Jacobins. Đặc biệt, Hội Nghị đã đáp trả cuộc khủng hoảng với  lệnh tổng động viên 300,000 tân binh trong tháng Ba. Lệnh trưng binh này chỉ thực hiện dễ dàng tại miền Đông Nam và miền Nam, 2 vùng tiền tuyến, và chung quanh Paris. Ở phía Tây, nó gây nên một cuộc vũ trang nổi loạn lớn lao và cuộc nội chiến. Nổi lên ngay tại thời điểm tối nguy hiểm cho nền Cộng Hoà non trẻ và đã gây ra tổn thất lớn lao về nhân mạng, sự hồi sinh đã để lại những vết sẹo lớn trên thân thể  của nền xã hội  và chính trị Pháp. Nó vẫn còn tiếp tục chia rẽ các sử gia:  đối với một số người, sự đàn áp cuộc nổi loạn rõ ràng mang tội ác ‘diệt chủng’. Với những người khác, nó thật đáng tiếc nhưng là một đáp trả cần thiết cho một hành động ‘đâm sau lưng’ tại cái giây phút khủng hoảng lớn lao nhất của cuộc Cách Mạng.
Các nguồn gốc của sự nổi loạn được tìm thấy trong các đặc tính riêng biệt của mỗi vùng miền và sự va chạm khác biệt mà Cách Mạng gặp phải từ 1789. Những tỉnh phía Nam của khu vực Loire  nơi bạo động bùng phát rải rác ở trong vùng các nông trại  xa xôi phân chia bởi các hàng rào cao, sự liên lạc với thế giới bên ngoài hạn chế và là vùng hỗn hợp giữa các nông trại trồng thực phẩm và nuôi gia súc lấy sữa thịt, với sự sản xuất vải sợi có cơ xưởng tại những trung tâm làng mạc nhỏ.  Số lượng sở hữu tài sản lớn lao của các quý tộc và chức sắc tôn giáo được các chủ nông trại tương đối khá giả thuê mướn với những hợp đồng được bảo đảm qua tầng lớp tư sản trung lưu. Những yêu sách quá đáng của các lãnh chúa và nhà nước trước 1789 tương đối ít ỏi. Một tầng lớp giáo sĩ đông đảo, tích cực và do địa phương tuyển mộ đóng một vai trò xã hội cốt cán nhờ có sự phồn thịnh để làm được việc như vậy; như trong các giáo phận khác tại miền Tây, hầu hết các linh mục trực tiếp thu phần thuế thập phân hơn là do giáo phận phân bổ thành phần xuống để phù hợp theo hoàn cảnh. Đối với đa số người dân  sống tại các nông trại rải rác và các thôn xóm, ngày lễ Chúa Nhật là cơ hội khi đi đến trung tâm làng xã, cảm giác hoà nhập vào cộng đồng trong cái danh hiệu giáo xứ, đưa ra những quyết định và nghe tin tức do các linh mục chuyển tải.
Sự trình tấu những bất mãn của từng khu vực biểu lộ những niềm hy vọng của người dân vùng quê, kêu gọi chấm dứt tình trạng đặc quyền và chia xẻ quyền lực chính trị.  Chỉ có việc thiếu phê phán giáo hội là điểm bất thường của các bản tấu trình. Cách Mạng đã chẳng mang lại cho các nông dân  vùng Vendée những lợi thế rõ ràng.   Phần thuế nhà nước nặng nề hơn do các tay tư sản địa phương thu góp một cách vô lý, và cũng là những người độc quyền hoá các văn phòng và hội đồng thị xã mới, đồng thời mua hết các đất đai của Giáo Hội vào năm 1791.  Tại khu quận Cholet, đám quý tộc đã mua 23.5% số đất như vậy, dân tư sản mua 56.3%, còn nông dân chỉ có 9.3%.  Sự sụp đổ nhu cầu vải sợi, tiếp theo một hiệp ước mậu dịch tự do với Anh Quốc năm 1786 và những khó khăn kinh tế trong thời kỳ Cách Mạng đã cô lập những công nhân vải sợi. Tương tự, qua dự đoán cho rằng các hợp đồng thuê mướn lâu dài riêng biệt của miền Tây chỉ là một trong nhiều hình thức thoả thuận thuê mướn, chính quyền Cách Mạng đã làm cho tầng lớp trung lưu miền quê trở nên dễ đổ vỡ hơn là công nhận họ như những chủ đất bán chính thức.
Các linh mục tại miền Tây thù ghét việc xóa bỏ thuế thập phân và sự áp đặt một quan niệm thành thị và dân sự về chức vụ linh mục. Họ được hỗ trợ bởi các cộng đồng của họ bất mãn với kết quả của Cách Mạng và phẫn nộ vì sự áp đặt quá nhiệt tình việc cải tổ giáo hội từ những  công chức nhà nước. Thí dụ tại Angers, ban quản trị tư sản mới đã từ lâu có đặc tính thù ghét sự giàu có và các giá trị của hàng giáo sĩ. Tại khu quận La Roche-sur-Yon cũng thế, ban quản trị hành chánh đã không do dự đóng cửa 19 nhà thờ giáo xứ trong tổng số 52, được cho là số dư thừa theo những điều khoản về “Luật Hiến Pháp Dân Sự về Giáo Sĩ.” Trường hợp hiếm hoi là một nhân viên tại Vitré thuộc tỉnh bang Deux-Sèvres, người mặc dù  tin rằng cái chủ nghĩa cuồng tín đã không may cắm rễ sâu tại khu vực này đã khuyến cáo rằng: “Chúng ta không được trực tiếp  đối đầu nó vì e rằng sẽ gây quá nhiều máu đổ. Chúng ta hãy giáo dục, thuyết phục và rồi chúng ta sẽ đưa họ quay đầu lại.”
Cộng đồng miền quê xa xôi đáp ứng lại với những bất mãn tồn trữ trong khoảng 1790-1792 qua sự xỉ nhục các giáo sĩ chịu ký hiến pháp đã được các công dân ‘tích cực’ bầu chọn, qua sự tẩy chay các cuộc bầu cử quốc gia và địa phương và qua những trường hợp thù ghét lập đi lập lại đối với các viên chức chính quyền địa phương. Hơn bất cứ thứ gì khác, luật động viên đã làm họ chú tâm hơn vào sự hận thù, vì những viên chức tư sản thi hành luật đó lại được miễn trừ khỏi danh sách bốc thăm trúng tuyển. Trong khi những người Cộng Hoà đa số là giới tư sản, thợ thủ công và chủ  tiệm, đám nổi loạn thì lại đại diện thành phần tiêu biểu của xã hội vùng quê xa xôi. Phụ nữ đóng một vai trò cốt yếu trong cuộc nổi loạn như người trung gian giữa hàng giáo sĩ và cộng đồng thế tục và trong việc giữ gìn tài sản trong cuộc chiến đấu. Đám Cộng Hoà lên án những kẻ nổi loạn là lũ nông dân ngu dốt và mê tín dị đoan, chịu sự chi phối của bọn linh mục cuồng tín. Ngược lại, các phương châm của quân nổi dậy diễn tả sự ủng hộ cho các “linh mục tốt lành” như sự thiết yếu cho một lối sống bị đe doạ, và cho sự thù ghét đối với bọn tư sản:
“Bọn bay sẽ bị diệt vong trên phố
Hỡi bọn tư sản đáng nguyền rủa
Nằm giơ chân lên không
Như một đám sâu bọ…”
Theo đó, các mục tiêu đầu tiên là các viên chức địa phương, những người bị tấn công và nhục mạ. Tại những trung tâm thị xã nhỏ như Machecoul nơi có tới 500 người theo Cộng Hoà bị tra tấn và sát hại trong tháng Ba.
Vùng Vendée khởi đầu cuộc phản cách mạng không đến nỗi đến mức chống phá: Cuộc Cách Mạng từng được chào đón ở bước đầu đã không mang lại lợi lộc gì ngoài rắc rối.  Việc tham  gia  sau đó của giới quý tộc và giáo sĩ cố chấp đã mang lại cho họ một màu sắc phản cách mạng, nhưng đám nông dân đã không chịu thiết lập một đội quân để đi đến Paris hay chịu chi trả trở lại các lệ phí hay thuế thập phân.  Vùng lãnh thổ này thích hợp cho các cuộc đột kích và rút lui theo kiểu du kích và làm trầm trọng thêm cái vòng lẩn quẩn của sự chém giết và trả thù của cả 2 phía, đã thuyết phục  được sự phản bội của phía đối nghịch. Đối với những người theo Cộng Hoà, đám nổi loạn thuộc loại mê tín và hung bạo, được các quý tộc và linh mục ác độc điều khiển vì sự ngu dốt của họ. Đối với dân nổi loạn, sự kéo dài trả thù mà một số nhà viết sử tiếp tục diển tả không thực sự chính xác như cuộc diệt chủng, đã củng cố cái hình ảnh đẫm máu của Paris mà nó sẽ được làm theo rộng rãi tại nhiều khu vực xa xôi trong thế kỷ kế tiếp.
Cuối cùng, cuộc nội chiến có lẽ đã cướp đi tới 200,000 sinh mạng mỗi bên, cũng không thua kém các cuộc chiến chống quân ngoại 1793-1794.  Sự cay đắng của cuộc chiến đấu vào cái thời điểm của một cuộc khủng hoảng quân sự toàn quốc đã khuyến khích cho một sự trấn áp tràn lan. Khi viên tướng Westermann báo cáo lại cho Hội Đồng Nghị viện vào tháng Mười Hai 1793 rằng vùng Vendée không còn nữa, ông thú nhận rằng: “ Chúng ta chẳng bắt được một tù binh nào: đáng lẽ  điều cần thiết là cho họ mẩu bánh tự do và lòng thương xót chứ không phải là cách mạng.” Giữa tháng 12 và tháng Năm 1794,  sau khi cuộc nổi dậy đã bị đè bẹp, các đội quân khủng khiếp của viên tướng Turreau đã thực hiện một cuộc trả thù đốt phá thành bình địa lên 773 xã ấp dám tuyên bố đứng ngoài vòng pháp luật. Ông ta đã báo cáo lên bộ trưởng chiến tranh rằng tất cả bọn nổi loạn và tình nghi nổi loạn ở đủ mọi lứa tuổi cả nam lẫn nữ đều bi đâm chết; mọi làng mạc, nông trại, rừng cây, đất hoang, nói chung bất cứ gì có thể cháy đều bị tiêu hủy hết. Có một sự ước lượng rằng có đến 117,000 người (15% dân số) trong những cộng đồng này đã chết.
Tại La Rochelle ở cạnh phía Nam vùng Vendée, cuộc Cách Mạng cũng mang lại  sự bất trắc và khó khăn kinh tế. Tuy nhiên, tại đây sự phản đối được biểu lộ theo một cách khác. Dân La Rochelle đã sống lâu đời với đặc quyền của họ trong liên hệ buôn bán với St-Domingue, mối thương mại với vùng Bắc Âu và bờ biển, việc mua bán nô lệ Phi Châu và sự xuất khẩu muối, rượu vang và lúa mì. Cuộc  chiến trở thành thảm hoạ cho ngành  buôn bán nô lệ: từ 22 phiên chợ nô lệ trong năm 1786, đến năm 1792 chỉ còn lại 2 vụ.  Các nhà máy đường đóng cửa vì thương mại thuộc địa sụp đổ. Vào tháng Sáu 1792, 5 người trong số các thương gia giàu có nhất vỡ nợ kể cả viên thị trưởng Daniel Garesché.
Mặc cho những thăng trầm đó, La Rochelle vẫn kiên trì ủng hộ Cách Mạng, đặc biệt giới ưu tú Tin Lành. Trong ngày 16 tháng Giêng 1793, 7 đứa con trai và 8 con gái khoảng 13 tuổi đã xuất hiện trước hội đồng thị trấn La Rochelle để trao tặng trang phục cho các binh lính mà bọn chúng đã dốc hết tiền dành dụm để mua tặng. Một đứa trong họ, Nanine Weis đến từ một gia đình Tin Lành giàu có tại thị trấn đã thay mặt họ phát biểu:
“Kính thưa các quan tòa, quý vị thấy trước mắt quý vị một xã hội nhỏ bé của những người yêu nước trẻ, thường đến với nhau qua nhu cầu tìm niềm vui trong độ tuổi của chúng cháu, với sự tốt đẹp của tình thân hữu đã liên kết cha mẹ chúng cháu.  Tình yêu quê hương đã lớn lên trong trái tim non nớt của chúng cháu và chúng cháu lo lắng khi biết rằng những tình nguyện quân dũng cảm trong tỉnh của chúng ta đã lên đường bảo vệ đất nước mà thiếu thốn những dụng cụ thiết yếu.  Chúng cháu đã tự quyên góp trong số chúng cháu, dùng những món tiền tiết kiệm khiêm tốn của chúng cháu. Chúng cháu chẳng có thể biếu tặng nhiều hơn. Nỗ lực của chúng cháu cho tới nay chỉ có thể mua được 26 đôi giày và 29 đôi vớ và mong quý vị gửi chúng đến những đồng hương dũng cảm của chúng ta tại mặt trận. Chúng cháu sẽ không ngừng dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa cho sự thành công của đoàn quân chúng ta chống lại kẻ thù của nền Cộng Hoà của chúng ta.”
Hai tuần sau đó,  theo sau sự hành quyết vua Louis XVI, Pháp và Anh Quốc xảy ra chiến tranh.  Việc buôn bán bờ biển, lúc nào cũng quan trọng hơn việc buôn bán nộ lệ và trao đổi mậu dịch thuộc đia, bây giờ cũng suy sụp. Sự phong tỏa đường biển của Anh gây nên sự suy sụp  của các gia đình Tin Lành mà sự thịnh vượng của họ chủ yếu đến từ việc buôn bán hải ngoại, đặc biệt trong dịch vụ nô lệ và  các sản phẩm thuộc địa.  Trong số họ có gia đình Weis đã rời về Paris với 3 phần tư số tài sản bị mất mát.
Khi Rochelais giải thích những sự bất hạnh của họ, các linh mục không chịu tuyên thệ đã trở thành những con dê tế thần rõ ràng nhất, hệt như tại Lille vào tháng Tư 1792 và Paris vào tháng Chín. Họ không chỉ  nhân  cách hoá những khó khăn mà Cách Mạng phải đối diện, nhưng ít ra đối với một số người trong thành phố, điều đó dường như họ cũng bị trách cứ cho những bất mãn về giới tính của họ: đàn ông tụ tập thành một đám đông 400 người đã từng đập phá đồ đạc các tu viện vào tháng Năm 1792 với lý do là đi tìm kiếm đám  người không chịu tuyên thệ, ngươì ta đã nghe họ hô lớn: “Chúng tôi thà đập phá bàn ghế, cửa sổ  hơn đánh đập chân tay vợ con. Chúng tôi đã không có gì vui thú trong suốt 4 tháng qua. Có con quỷ ở trong nhà chúng tôi mà.” Điều này biểu lộ rằng các giáo sĩ không tuyên thệ đã khuyên nhủ đàn bà phụ nữ từ chối chuyện chăn gối đối với những ông chồng “yêu nước” của họ. Dĩ nhiên, vào tháng Năm 1792 khi nước Pháp bước vào chiến tranh, cánh giáo sĩ ương ngạnh này bỏ chạy trốn.
Vào thời điểm cuộc nổi loạn dấy lên ở Vendée, thị trấn đang ở trong tình trạng đói khát, tuyệt vọng và phẫn nộ. Dân Vendée nổi loạn bị ghét bỏ như một biểu tượng nhân cách hoá của chế độ Công Giáo Pháp và Âu Châu cổ hủ mà  vì sự chối bỏ Cách Mạng, nó đã mang đến đau khổ tột cùng và phá nát mọi niềm hy vọng. Một đội quân tình nguyện tới 2000 người được gửi đến Vendée vào ngày 19 tháng Ba đã nhanh chóng bị đánh bại. Trên đường quay trở về La Rochelle, đám quân tàn dư bị thương tích và nhục nhã đã tìm thấy một chỗ để trút sự giận dữ. Vào sáng ngày 21, 4 linh mục cố chấp (không tuyên thệ) đã được di rời khỏi nhà tù thành phố đến một nhà tù ngoài khơi để bảo đảm sự an toàn cho họ. Theo lời nói của thẩm phán hòa bình:
“Người dân tụ họp thành đám đông đã bị phản đối vì việc đưa họ xuống tàu ở gần Tour de la Chaine. Sự sôi sục càng trở nên mạnh mẽ hơn khi thình lình có một số đông các công dân của thị trấn này đã bị thương tích trong cuộc chinh phạt Vendée thất bại hôm 19 trong tháng quay về. Mấy ông linh mục bị bao vây và đâm chém đến chết. Sau đó viên quan toà tường thuật: “Người ta chiếm giữ xác họ và sau khi đã chặt đầu, họ mang đi diễu hành qua nhiều đường phố.” Đây chỉ là một sự tóm tắt nhẹ nhàng của một hành vi chặt chém lạ thường áp dụng lên thân  xác con người.  Sự việc đã lập lại vào buổi chiều kế tiếp khi có 2 linh mục khác thật bất hạnh đã từ Ile-de-Ré để đến La Rochelle đi ngang qua. Thân thể họ bị xé tan thành nhiều mảnh với bộ phận sinh dục của họ bị treo lên đầu một cây gậy.”
Lại còn một cách đáp ứng khác đối với cuộc khủng hoảng mùa Xuân 1793 đã xảy ra  trong cái thị trấn nhỏ Pyrenée của vùng St-Laurent-de –Cerdans ở một mức độ cực đoan nhất so với Paris. Tại đây, cuộc Cách Mạng lúc đầu được chào đón bởi một đa số các người nghèo khổ trong sự hứa hẹn chấm dứt tình trạng đặc quyền. sau đó đã nhanh chóng biến thành cay đắng cho người dân Laurentins với những khó khăn chồng chất về việc buôn bán hợp pháp hay bất hợp pháp trong suốt vùng Pyrenees và đặc biệt với những cải tổ tôn giáo được nhận thức như một sự nổi giận thế tục và thành phố chống lại hệ thống Công Giáo chính thống. Vào ngày 17 tháng Tư 1793, người dân Lauretins đã chào đón các đoàn quân hoàng gia Tây Ban Nha đi vào làng xóm của họ và các vệ binh quốc gia địa phương đã bắn vào đám quân tình nguyện Pháp, họ đành rút lui. Quân Tây Ban Nha đã được chào đón qua một bài ca tiếng Catalan cầu xin họ có tinh thần trọng pháp luật.
Hàng trăm người đã sánh vai chiến đấu cùng đoàn quân Tây Ban Nha trong một năm trời cho tới khi cánh quân Jacobins chiếm lại một phần vùng đất tiến gần tới Vallespir vào tháng Năm 1794.
Một biến động còn nghiêm trọng hơn đánh vào chính thể Cộng Hoà là cuộc nổi dậy chống lại nhóm Jacobins vào tháng Tư tại Corsia. Nó quan trọng đối với Cách Mạng vì sự nổi tiếng của Paoli và truyền thống cộng hoà lâu đời của hòn đảo.  Là viên thống đốc trên đảo, Paoli đã có một hiến chương dân chủ tự do được viên tổng lãnh sự Di Corti thừa nhận vào năm 1755. Sau đó vào năm 1768, quân đội Pháp của vua Louis XV đã xâm chiếm đảo và xóa bỏ quyền tự trị. Không ngạc nhiên lắm, từ 1789, Paoli đã được Hội Đồng Quốc Gia chào mừng như vị anh hùng. Tuy nhiên, qua sự lật đổ chế độ quân chủ và sự thất bại của hệ thống Liên Bang vào giữa năm 1793, Paoli ngày càng quan tâm đến những cưỡng ép tập trung của Quốc Hội Nghị Viện. Xã hội Corsi phân rẽ ra giữa những người ủng hộ Paoli và những người ủng hộ dòng họ Bonaparte. Dòng họ này sau đó đã buộc phải bỏ trốn vào đất liền và bị hội đồng Corsican cáo buộc là bọn phản quốc và là kẻ thù của tổ quốc, bị lên án muôn đời nguyền rủa và nhục nhã.
Cuộc nội chiến tại Vendée, những thất bại quân sự ở tiền tuyến và sự lý giải ngày càng thêm nguy hiểm của phe cánh Girondins đã đẩy những người không phe phái đến việc ủng hộ các đề xuất của phe Jacobins cho những biện pháp khẩn cấp thời chiến. Giữa tháng Ba và tháng Năm 1793, Quốc Hội Nghị Viện đặt các quyền hành pháp vào tay một Uỷ Ban Công An và quyền hành giữ trật tự vào tay Ban An Ninh Thường Trực. Quốc Hội Nghị Viện cũng hành động để giám sát quân đội qua các ‘đại biểu đặc nhiệm.’ Họ thông qua những nghị quyết tuyên bố ‘khai tử về mặt dân sự’các di dân,  cung cấp cứu trợ công cộng và đặt sự kiểm soát giá cả  ngũ cốc và bánh mì.
Phe cánh Girondins bị chạm nọc vì  sự mất quyền bính trong Nghị Viện và sự tấn công ngày càng tăng của đám ‘Sans-Culottes’. Họ phản công bằng việc tìm cách buộc tội ‘người bạn của dân’ Marat, bằng cách đe doạ di chuyển thủ đô về Bourges và bằng cách tấn công chính quyền thành phố Paris hay còn gọi là Công Xã Paris. Isnard cảnh cáo đám Sans-Culottes: “Nhân danh nước Pháp, ta nói cho các người biết rằng nếu những vụ nổi dậy này cứ tái diễn mãi như vậy thì chúng sẽ gây hại cho Quốc Hội mà đất nước đã bầu chọn. Rồi Paris sẽ bị huỷ diệt và người ta sẽ phải đi lùng sục trên bờ sông Seine  trong vô vọng để đi tìm  cho ra dấu vết của Paris.” Trong cái bối cảnh khủng hoảng quân sự và lạm phát phi mã, những đe doạ như vậy nghe lạ lùng  giống như tuyên ngôn của Công tước Brunswitch vào tháng Bẩy 1792 và đã làm dân lao động Paris giận dữ. Phụ nữ buôn bán ở chợ bắt đầu kêu gọi một cuộc thanh trừng với một sự cưỡng bức cho đám người phi cách mạng như vậy. Vào giữa tháng Tư, 35 phân bộ đã đồng ý về một danh sách các đại biểu Girondins bị khai trừ khỏi Quốc Hội Nghị Viện và thiết lập một Uỷ Ban Cách Mạng Trung Ương. Công Xã Paris đã ra lệnh thành lập một đội dân quân Sans-Culottes 20,000 có trả lương trú đóng chung quanh Nghị Viện vào cuối tháng Năm và ép buộc các đại biểu còn lưỡng lự chấp nhận những mong muốn của họ.  29 đại biểu Girondins  bị bắt giữ.
 Khởi đầu Quốc Hội Nghị Viện đã do dự: Liệu việc thanh trừng của Nghị Viện không phải là một sự khinh mạn không thể tha thứ về nguyên tắc chủ quyền đất nước chứ? Tuy nhiên, sau đó họ đã thực hiện để giải quyết sự khủng hoảng của đất nước trong cơn nguy hiểm của sự sụp đổ nội địa và thất bại bên ngoài. Vào mùa hè 1793, Cách Mạng đối diện cuộc khủng hoảng lớn lao nhất đồng loạt về cả quân sự, xã hội và chính trị. Quân địch đã tiến vào trong đất Pháp tại Đông Bắc, Đông Nam, Tây Nam; và trong nội bộ thì cuộc nổi dậy lớn lao tại Vendée đã thu hút phần lớn quân đội Cộng Hoà. Những đe doạ này còn trầm trọng thêm vì sự trả thù của 60 ban quản trị hành chánh về việc thanh trừng nhóm Girondins. Những thành phố vùng miền lớn nhất đã rơi vào tay một liên minh giữa những người Cộng Hoà bảo thủ và những người bảo hoàng. Vào ngày 29 tháng Tám, kho vũ khí hải quân  chủ chốt Toulon tại vùng Điạ Trung Hải đã bị các sĩ quan tại đây giao lại cho Hải Quân Anh Quốc đang  phong tỏa bờ biển.
Những cuộc biến loạn mệnh danh “liên bang toàn quốc” này chỉ được liên kết ngẫu nhiên cùng thời điểm. Tuy nhiên, tất cả chúng đều phát xuất từ những truyền thống vùng miền mạnh mẽ.  Cuộc nổi dậy “tổng liên bang” đặc biệt  dữ dội ở những thành phố lớn ở phía Nam (Bordeaux, Lyons, Toulouse và Marseilles) và tại Normandy ((trung tâm vùng Caen). Trên hết, cối lõi của  cuộc nổi dậy tổng liên bang này là sự giận dữ của giới tư sản thượng lưu, đặc biệt tại các thị trấn thương mại, theo chiều hướng cấp tiến Cách Mạng đã đề ra. Sự thanh trừng các đại biểu đã được bầu chọn chỉ là giọt nước làm tràn ly.  Những mục tiêu trước mắt của cuộc dấy loạn là người trong phe Jacobins địa phương và các dân quân, nó phản ánh cái tính chất đặt căn bản trên giai cấp của sự chia rẽ địa phương. Tại Toulon, ủy ban nắm quyền hành gồm có 16 thương gia, 8 luật sư, 6 trang chủ thuê đất, 11 sĩ quan và kỹ sư cơ khí hải quân, 3 công chức, 3 linh mục và 3 thợ thủ công. Họ xác định rằng: “Chúng tôi thưởng thức thành quả của chúng tôi, tài sản, hoa quả trái cây và sản phẩm từ công lao khó nhọc và  nền kỹ nghệ của chúng tôi trong sự hoà bình. Vậy mà chúng tôi thấy bọn họ không ngớt đưa ra những lời đe dọa từ những kẻ chẳng có gì cả.” Tại Lyon cũng thế,  cuộc tranh đấu giữa Jacobins và Girondins được nối kết vào chính trị và quân sự của những người thợ dệt lụa, được biểu lộ qua các câu lạc bộ Jacobins trong những năm tháng kể từ 1789. Tuy nhiên, không có nơi nào mà phe cánh “Tổng Liên Bang” tập hợp được một lực lượng quân sự  đủ hùng mạnh  để gây nên một mối đe dọa nghiêm trọng cho quân đội nhà nước.
Sự đe doạ tiến vào tới trung tâm của Nghị Viện vào ngày 13 tháng Bẩy khi Charlotte Corday ám sát Marat. Corday, người đến từ vùng đất vững chắc của phe Tổng Liên Bang tại Caen, là một người ủng hộ Girondins và coi  Marat là một cá nhân biểu hiện cho những cặn bã của cuộc Cách Mạng. Bà ta bị ra tòa ngày 17 và bị hành quyết cùng ngày. Cùng với Le Peletier, người bị một tay bảo hoàng giết trong đêm Nghị Viện bỏ phiếu kết án tử vua Louis XVI, và Joseph Chalier, người lãnh đạo Jacobins tại Lyons bị những tay “Tổng Liên Bang” giết ngày 17 tháng Bẩy, cùng với Marat tạo thành một bộ ba liệt sĩ Cách Mạng. Trong lãnh vực kinh tế,  đặc biệt số phận của những người hưởng lương tiếp tục suy thoái: Vào tháng Tám, giá trị  mua hàng của đồng Assignat đã giảm đi 22% so với giá trị được ấn định, và giảm 36% so với tháng Sáu. Đến lúc này Cách Mạng, thực ra là chính nước Pháp, có nguy cơ đứng trên bờ vực thắm.
Đối tượng đầu tiên của Ủy Ban Công An Jacobins được Hội Đồng Nghị Viện bầu chọn trong ngày 27 tháng Bẩy là để thực hiện các luật lệ và sự kiểm soát cần thiết cho việc đánh một màn khủng bố vào đầu não của những tay phản Cách Mạng. Nghị Viện ngầm đồng ý  với các biện pháp hà khắc cần thiết, như các ban giám sát, giam giữ phòng ngừa và kiểm soát  tự do dân sự để bảo đảm thể chế Cộng Hoà tới một vị trí mà Hiến Pháp Tự Do và Dân Chủ  tháng Sáu 1793  có thể được thực thi. Hiến Pháp mà phần lớn là tác phẩm của Robespierre chú ý đáng kể cho sự bảo đảm các quyền xã hội và sự kiểm soát của công chúng đối với một hội đồng được bầu chọn qua quyền bỏ phiếu phổ thông của các nam công dân:
Điều 21: Sự trợ giúp công cộng là một món nợ thiêng liêng. Xã hội mắc nợ sự sống còn đối với các công dân kém may mắn, hoặc bằng việc tìm kiếm công ăn việc làm cho họ hay bằng cách cung cấp phương tiện để tồn tại cho những ai không thể lao động.
Điều 22: Tất cả mọi người (thuộc nam giới) cần được hướng dẫn. Xã hội phải đưa tiến trình lý trí công cộng đi xa hơn với tất cả quyền hạn của mình và làm cho sự hướng dẫn có hiệu lực đến mọi công dân.
Điều 35:  Khi chính quyền vi phạm các quyền hạn của nhân dân, sự nổi dậy sẽ là một trong những quyền thiêng liêng nhất và nhiệm vụ cần thiết nhất cho nhân dân và cho mỗi người dân.

Kết quả của cuộc trưng cầu ý dân về việc có chấp nhận hay không với chừng 1.8 triệu phiếu thuận và chỉ 11,600 phiếu chống được loan báo trong ngày lễ “Thống Nhất” 10 tháng Tám, kỷ niệm đệ nhất chu niên ngày lật đổ chế độ quân chủ. Con số cuối cùng cho phiếu thuận  có lẽ sát hơn với 2 triệu trên tổng số khoảng 6 triệu nam công dân có quyền bỏ phiếu. Tỷ lệ tham dự đầu phiếu thay đổi tuỳ vùng từ ít hơn 10% tại phần lớn vùng Brittany tới 40 – 50% dọc theo bờ sông Rhine và nhiều phần vùng Massif Central. Tại vài khu vực, việc đi bầu trở thành một lễ hội: Tại St-Nicolas-de-la-Grave thuộc tỉnh bang Haute-Garonne, vài người có mặt đã bị giao động qua một bài diễn thuyết mà nó chuyên chở được lòng nhiệt thành tuyệt vời nhất. Đôi mắt họ long lanh ngấn lệ và ôm chầm lấy nhau chia xẻ những nụ hôn thân thiết tình anh em. Tương tự tại Lamballe thuộc Vôtes-du-Nord, phụ nữ tụ họp thành đoàn để biểu lộ sự đồng ý với Hiến Pháp. Ở nơi khác, 343 phụ nữ đi bầu tại Laon và tại Pontoise có 175 phụ nữ và 163 trẻ em. Tuy nhiên, cái mức độ tự do cá nhân được bảo đảm trong Hiến Pháp như vậy lại đã bị treo cho tới khi có hoà bình vì e ngại đám  phản cách mạng  lạm dụng  sự tự do.
Vào giữa năm 1793, chính quyền Cộng Hoà đã gây chiến với hầu hết Âu Châu và quân ngoại quốc đã có mặt trên đất Pháp tại Tây Nam, Đông Nam và Đông Bắc. Sự thách thức về quân sự đưa đến một cuộc tổng động viên lạ thường về tài nguyên quốc gia và về sự đàn áp các đối thủ.  Điều thiết yếu cho sự động viên này là sự thiết lập một liên minh thành thị & thôn quê của chính quyền Jacobins qua việc hỗn hợp hù doạ, cưỡng bức và các chính sách nhắm vào cả những bất mãn  của công chúng và đặt toàn thể đất nước vào tình trạng chiến tranh.
Nghị Viện đã phải vượt qua những bất thường của cuộc chiến đấu tại rất nhiều mặt trận vào cái thời điểm chia rẽ nội bộ và cuộc nội chiến và cả một số điều thất vọng: có lẽ có đến 35,000 quân lính (khoảng 6% trên tổng số) đã đào ngũ trong nửa năm đầu 1973 và nhiều người khác đã phản ứng lại vì sự thiếu hụt tiếp liệu lương thực vì nạn trộm cắp  các sản phẩm địa phương.  Trong mùa đông 1793, một người lính tại miền Đông Nam đã viết rằng “tiểu đoàn của chúng tôi đang ở trong tình trạng thiếu thốn nhu yếu phẩm vô cùng, giống hệt như những người vô sản (Sans-Culottes) thực sự. Từ người đầu đến người cuối, chúng tôi không hề có giày dép, lại bị ghẻ lở và bọ chét gặm nhấm.” Một tiểu đoàn cạnh đó báo cáo rằng họ phải đào rễ cây ăn để sống còn.
Sự đào ngũ đã giảm đến mức tối thiểu trong 1973-1974 nhờ kết quả của một sự hỗn hợp cưỡng bức, tuyên truyền và sự hữu hiệu của Ủy Ban Công An Jacobins và các viên chức của họ trong việc tiếp tế cho một đội quân gần 1 triệu người.  Giữ gìn năng lực của Quốc Hội Nghị Viện cùng các ủy ban của nó là đòi hỏi của phe cánh Sans-Culottes rằng chỉ có một sự tổng động viên giàu nghèo giống như nhau mới có thể cứu được thể chế Cộng Hoà: Vào ngày 23 tháng Tám, tất cả đàn ông độc thân tuổi từ 18-25 đều được trưng binh hàng loạt.:
“Các chàng trai trẻ sẽ đi chiến đấu. Đàn ông có vợ sẽ đến các đơn vị sản xuất vũ khí và vận tải. Phụ nữ sản xuất lều trại và quân trang. Những người già sẽ được đưa đến những nơi công cộng để khuyến khích sự dũng cảm của các chiến sĩ, để rao truyền sự thù ghét đối với vua chúa và duy trì sự đoàn kết của thể chế Cộng Hoà.”
Các đơn vị Vệ Binh Quốc Gia lãnh nhiệm vụ săn lùng những người trốn tránh việc động viên hay đào ngũ. Việc trưng binh tại các vùng không nói tiếng Pháp dùng một sự hướng dẫn căn bản bằng tiếng Pháp và quân lính trưng binh mới được chia rải rác ra trong khắp quân đội để giảm thiểu sức quyến rũ của việc chiến đấu tập trung sự tuyên truyền đám đông, chẳng hạn như tờ báo khiêu dâm  hạ cấp ‘Le Père Duchesne’ của Hébert được phân phát và ‘các đại biểu đặc nhiệm’ đến từ Nghị Viện được bảo đảm quyền trừng phạt nhanh chóng đối với những sĩ quan do dự và những cấp dưới không sẵn lòng. Sự xây dựng một tinh thần mới trong quân đội không phải duy nhất là kết quả của sự cưỡng chế: các thư từ của quân lính gửi về nhà cũng chứa đầy những nhận xét về nhiệt tâm Cách Mạng và cam kết của họ đối với Tổ Quốc. Anh chàng tình nguyện quân Pierre Cohin từ đạo quân phía Bắc đã viết về gia đình:
Cuộc chiến chúng ta đang chiến đấu không phải là một chiến tranh giữa vua với vua hay giữa quốc gia với quốc gia. Đó là một cuộc chiến của tự do chống lại độc tài. Không còn nghi ngờ gì rằng chúng ta sẽ chiến thắng. Một đất nước có công lý và tự do thì không thể bị đánh bại.”
Nền văn hóa chính trị của thể chế Cộng Hoà ám chỉ đến những mối quan hệ mới với giới chức thẩm quyền. Sự thiết lập những đạo quân Cộng Hoà lớn lao gồm quân chính quy và  quân tình nguyện  bây giờ hỗn hợp đã gây nguy hiểm cho một nền văn hoá quân sự đã trở thành một mô hình thu nhỏ của xã hội ‘hồi sinh’ như Quốc Hội Nghị Viện đã dự đoán.
Sắc luật Tình Nghi ban hành ngày 17 tháng Chín được tạo ra để  đưa những ‘kẻ không yêu nước” đi giam giữ hay để hù dọa họ không dám hành động. Sự việc ủy ban giám sát bắt giữ những ’kẻ tình nghi’ trực tiếp tới những người, theo định nghĩa, có hành động hay yếu tố có liên hệ với chế độ cũ. Tại Rouen, 29% trong số 1158 người tình nghi bị bắt giữ là giới quý tộc, 19% là giáo sĩ và 7.5% là những người nắm giữ chức vụ quản trị trước đây. Họ bị bắt giữ vì thân thế của họ đi đôi với những nghi ngờ về tư cách. Họ không phải là những người duy nhất bị bắt giữ: có tới 16.8 % là đám tư sản và giới lao động chiếm 27%. Trong khi nhiều người trong giới thường dân làm việc cho chế độ cũ, những người bị bắt giữ bị buộc tội vì những lời nói hay hành vi chống đối Cách Mạng. Trong số các chủ tiệm, các hành vi này thường có liên quan đến việc đầu cơ tích trữ hàng hóa. Đáng kể là có tới 39.4 % người bị tình nghi là phụ nữ, đặc biệt trong giới quý tộc và giáo sĩ. Điều này phản ánh cái xu hướng đàn ông trong 2 nhóm nhày đã di tản, để lại phụ nữ trở thành trung tâm điểm của sự tình nghi vì tên tuổi của gia đình họ và sự ủng hộ những người không tuyên thệ.
Những tháng này là cao điểm của quần chúng can hệ vào việc ủng hộ cũng như chống đối cuộc Cách Mạng. Ngay từ năm 1789 mà  cái biểu hiệu của tự do, sau đó là chính cuộc Cách Mạng đã có dáng dấp nữ tính, có lẽ vì trong ngôn ngữ Pháp, các đức tính và phẩm chất cổ điển thuộc giống cái và trong sự bắt chước vô ý thức của Công Giáo về đức tính của Mẹ Maria. Cuối năm 1793, nữ thần tự do và ngay cả chính cuộc Cách Mạng đã bị những kẻ chống đối ám chỉ khi liên hệ đến một cách chế nhạo như “Marianne”, một cái tên chung chung của người dân quê có nghĩa là “thuộc về người dân”. Cũng như trong trường hợp từ ngữ Sans-Culottes, những người Cộng Hoà sau đó đã thừa nhận cái tên Marianne với niềm tự hào. Vào ngày 14 tháng 11 năm 1793. một viên chức đã tường thuật từ Narbonne:
“Các nhà thờ, ngoại trừ 2 cái, đã bị gạt bỏ ra ngoài và sự cải tổ này đã chỉ làm cho một ít phụ nữ nhiệt thành phàn nàn. Họ kiên quyết từ chối tin vào Thượng Đế mà các linh mục tuyên thệ theo Hiến Pháp mang đến với họ. Họ đặc biệt vui thích chứng kiến khi họ gặp gỡ và thăm dò tin tức về Cách Mạng. Họ thừa nhận với một giọng điệu buồn rầu và xoắn mắt xoắn môi trong một nụ cười thành kính: “Marianne sao rồi? – A! nàng ấy không khoẻ lắm, Nàng chắc chẳng sống lâu đâu – hay : cô ấy đỡ rồi. Cô đang hồi phục.”
Nhiều cộng đồng vùng xa xôi và những  khu thành thị lân cận đã dùng những chiến lược đa dạng để tránh né hay công khai chống đối những yêu sách của chính quyền trung ương và các đại diện địa phương của chính phủ. Những sự kháng cự đối với những đòi hỏi quá đáng của chính quyền Cách Mạng được biểu lộ qua việc không trả thuế, tránh tối đa các loại phí thu trên giá cả của các món hàng tiêu thụ nhu yếu phẩm và lương bổng và không chịu xử dụng tiền giấy Assignat. Tuy nhiên, sự chống đối chính trị vào thời điểm chiến tranh ẩn tàng sự đe doạ có thể bị kết án tử hình cho tội phản quốc. Tại Nantes, Carrier được ủng hộ bởi những người Cộng Hoà giận dữ và muốn trả thù khi ông ta ra lệnh dìm chết đuối  tới 1800 dân Vendée nổi loạn, gồm cả các linh mục.
Tại Vendée, sự đàn áp các cuộc nổi dậy không chút khoan nhượng. Trong khi nhiều người lãnh đạo theo phe Liên Bang được coi là người Cộng Hoà, họ đã được thoả hiệp 2 mặt: Trước hết, bởi vì họ đã phủ nhận uy quyền của Quốc Hội Nghị Viện ở cái thời điểm thể chế Cộng Hoà đang khủng hoảng quân sự nghiêm trọng nhất. Thứ hai, bởi vì sự ủng hộ họ nhận được từ phe bảo hoàng, giới quý tộc và các giáo sĩ do sự liên kết đã làm họ bị lu mờ. Thật dễ dàng cho phe cánh Jacobins sơn phết đám người Liên Bang này ở trong một đội ngũ chung với đội quân của chế độ cũ. Tại Marseilles, 499 trong số 975 người bị tình nghi đã bị toà án Cách Mạng kết án có tội với 289 người bị hành quyết. Ngược lại tại Lyons, 1880 người được một toà ít câu nệ tuyên án nhẹ hơn. Collot d’Herbois thuộc Ủy Ban Công An đã ra lệnh xử bắn để trừng phạt thành phố “Ville Affranchie” đổi tên. Trong số những người bị xử bắn có Antoine Lamouette, một Giám Mục đã tuyên thệ theo Hiến Pháp của Lyons, người đã thuyết phục được mọi phe phái của Hội Đồng Lập Pháp trong một buổi họp ngày 7 tháng Bẩy vào thời kỳ khủng hoảng quân sự đầu tiên.
Trong lời tuyên bố của chính quyền Cách Mạng ngày 10 tháng Mười, Ủy Ban Công An đã loan báo rằng: “Chính phủ lâm thời của Pháp là (chính quyền) Cách Mạng cho đến khi có hòa bình.” Tất cả các cơ quan và quân đội lúc này được đặt duới sự kiểm soát của Ủy Ban mà nó sẽ báo cáo hàng tuần lên Quốc Hội Nghị Viện. Trong cùng tháng, theo bước chân Marie-Antoine lên giàn hành quyết là 21 đại biểu Girondins đã bị khai trừ hồi tháng Sáu. Sau đó đến phiên Bailly và Barnave.
Trong số những người phe Girondins bị hành quyết có đại biểu và là nhà báo Gorsas, người đã trốn khỏi thủ đô hôm 2 tháng Sáu. Ông ta đã tổ chức một cuộc nổi dậy vũ trang tại Normandy và trốn đi khi bị thất bại. Ông ta bị bắt khi quay trở lại Paris thăm tình nhân của ông.
Trong khi, ngay từ khởi đầu của toà án Cách Mạng Paris vào tháng Ba 1793, chỉ có 66 trong số 260 kẻ bị tình nghi bị tìm thấy có tội đại hình; đến ba tháng cuối cùng trong năm, con số có tội có tới 177 trong số 395 ngưởi bị tố cáo. Tuy nhiên, cho tới tháng Sáu 1794, hầu hết những kẻ bị tình nghi chưa bao giờ xuất hiện trước toà án. Những người đã ra toà thì 40% được tha bổng. Những kẻ kém may mắn đối diện cái chết và ngỏ lời vĩnh biệt tới những người thân yêu. Trong tháng Mười, Marie-Madeleine Coutelet, người làm việc trong một xưởng dệt vải gai tại Paris bị bắt giữ vì những lá thư được tìm thấy trong phòng cô chỉ trích những hạn  chế của thời Khủng Bố. Coutelet đã khăng khăng một cách vô ích rằng đó chỉ là những sự chế nhạo mỉa mai mà thôi. Lá thư cuối cùng cô viết cho cha mẹ:
“Xin vĩnh biệt, con xin hôn cha mẹ lần cuối. Con là đứa con đáng yêu, tình cảm nhất của cha mẹ trong các chị em. Ngày hôm nay, con tìm thấy điều tốt đẹp nhất mà đấng Tối Cao đã ban cho. Hãy cứ sống và nghĩ về con với nỗi vui mừng trong cái hạnh phúc đang chờ đón con. Tôi ôm hôn các bạn và xin biết ơn tất cả những người đã có lòng tốt nói lên tiếng nói bảo vệ tôi. Xin vĩnh biệt lần cuối. Mong rằng các con cái tôi hạnh phúc. Đó là mong ước cuối cùng của tôi.”
May mắn hơn là anh chàng thư ký 26 tuổi Jean-Louis Laplane, người đã trốn khỏi Marseilles đi lưu vong vào giữa tháng Chín, theo lời của anh ta: “đã bị theo đuổi bởi một lũ người man rợ đã bao phủ nước Pháp bằng máu và tang tóc.”
Cuộc tổng động viên trên toàn lãnh thổ đòi hỏi Nghị Viện đi những bước để tạo nên một sự đoàn kết mới bằng những biện pháp tích cực cũng như bằng sự hù doạ. Trong 2 ngày 5 và 6 tháng Chín, hàng ngàn người Sans-Culottes, lúc này đang ở trên đỉnh quyền lực đã tràn vào xâm chiếm Quốc Hội Nghị Viện để nằng nặc đòi những “lệnh lạc” của họ phải  đem áp đặt những biện pháp kinh tế và quân sự cấp tiến. Nghị Viện đã hành động để thoả mãn những yêu sách của ngày này (hay sự nổi dậy này) bằng việc ra nghị quyết ngày 29 tháng Chín giữ ổn định giá cả  của 31 loại hàng hoá ở mức giá thời 1790 cộng thêm 1 phần 3 và ấn định lương bổng ở 150% mức lương 1790.
Quốc Hội Nghị Viện cũng bị buộc phải đáp lại những làn sóng bất ổn vùng quê xa xôi đã ảnh hưởng 2 phần 3 các tỉnh lỵ kể từ 1789. Trong khi việc bênh vực cho sự phân chia các bất động sản lớn lao, hay còn gọi là “luật nông nghiệp” bị coi là tội đại hình trong tháng Ba 1793, phe cánh Jacobins sau đó đã thực thi một loạt các biện pháp  tạo ra để  lấy lòng đám đông quê mùa, một điều kiện không thể bỏ qua được cho sự thành công quân sự. Vào 14 tháng Tám 1792, Hội Đồng Lập Pháp đã ấn hành một nghị quyết cấp tiến ngắn gọn trực tiếp chỉ đạo các công xã phân chia vùng đất công không phải là rừng cây. Vào 10 tháng Sáu 1793, Nghị Viện đã thay thế luật này với một điều luật còn cấp tiến và gây tranh cãi hơn, một trong những cố gắng tham vọng nhất của chính quyền Cách Mạng để thoả mãn những nhu cầu của đám dân nghèo. Điều luật yêu cầu các công xã xúc tiến việc phân chia nếu đây là ước muốn của 1 phần 3 cánh đàn ông trưởng thành. Đất đai sau đó được phân chia trên căn bản chia đều cho từng người (đàn ông, đàn bà và trẻ em). Tuy nhiên, phí tổn trả công cho các thanh tra viên đã làm giảm bớt sự có ích của điều luật này như một phương cách giải quyết một vấn đề đã gây chia rẽ những người dân quê xa xôi: Đó là liệu những lợi ích của dân nghèo  có được bảo đảm tốt nhất qua việc chia ra hay giữ lại đất công? Một loạt các biện pháp đã thúc đẩy nghị quyết ngày 25 tháng Tám 1792 đi xa hơn theo chiều hướng một sự xóa bỏ hoàn toàn chế độ lãnh chúa. Từ 17 tháng Bẩy 1793, những tay cựu lãnh chúa chỉ còn lại những lợi tức thuê mướn và lệ phí hoàn toàn trên đất đai và không còn chế độ phong kiến. Chế độ phong kiến đã chết vào giữa năm 1793 không phải vì những cuộc hội họp liên tiếp đã đưa ra một loạt các cuộc tấn công ngày càng mạnh bạo hơn vào những yêu sách chồng chất của một trật tự xã hội lâu cả một thế kỷ, nhưng bởi vì họ bị buộc phải đáp ứng một loạt các làn sóng những hành động chống lại thể chế lãnh chúa từ khắp mọi vùng miền.
Cuộc Cách Mạng miền quê xa xôi kéo dài chống lại thể chế lãnh chúa đã ràng buộc các cộng đồng xa xôi lại với nhau. Lúc này chế độ phong kiến đã chết, sự chia rẽ nội bộ trong pham vi xã hội vùng quê bắt đầu nổi lên. Ngay từ khởi đầu cuộc Cách Mạng, sự đụng chạm trong cái điều luật chống chế độ lãnh chúa năm 1789 đã nằm sâu sẵn trong  sự xung đột chung về việc làm chủ và  kiểm soát đất hoang. Chế độ lãnh chúa cuối cùng đã hoàn toàn bị xóa bỏ, nhưnng cần lâu hơn nữa để giải quyết những câu hỏi liên quan đến việc kiểm soát các tài nguyên kinh tế tập trung, đến việc thèm muốn đất đai và những việc khai quang.  Mặc dù nhóm Jacobins sẵn sàng giới hạn tự do cá nhân vì lợi ích quốc gia, cuối cùng họ cũng không thành công hơn những đồng viện tiền nhiệm thuộc phe tự do của họ. Trong một báo cáo được viết từ Lagrasse ngày 8 tháng 12 năm 1793, viên chức Jacobins Cailhava đã tường thuật rằng : “khu vực trước đây là đồng cỏ và bụi rậm bao phủ với những cây sồi xanh, nhưng đối với Cách Mạng, mỗi cá nhân coi chúng như những bắp cải trong vườn nhà họ.”  Cailhava đã giải thích điều này là vì sự thu hút vì giá cả cao của than và vỏ cây, nhưng cũng bởi vì đám  chăn cừu bò có thói quen lùa đàn gia súc tới những vùng có cây cối dồi dào cỏ non nhất vào mùa đông. Một nhà quý tộc có lòng tốt đã bỏ lại khoảng 300 mẫu rừng khi ông ta di dân  ra nước ngoài. Khu rừng đã bị phá hủy, đào gốc rễ, cướp phá và đàn dê đến gặm cỏ hàng ngày.  Tại khu quận Narbonne đã có một sự thiếu hụt cây cối trầm trọng vì cư dân tỏ vẻ coi thường đối với những cây chỉ mang lại tí bóng mát. Riêng với loại cây sồi, thì chiến tranh cứ liên tục để tranh giành chúng, vì vỏ của rễ cây sồi là loại thuốc nhuộm màu tốt nhất cho việc thuộc da. Người dân đã sẵn sàng để khai quang thêm đất mới, và thật đáng lo ngại vì cái hăng hái vô ý thức trong việc chuyển đổi tất cả đất đai thành những cánh đồng.
Những do dự của các nhà làm luật về thể chế lãnh chúa và quyền xử dụng đất đai đã đổ thêm dầu vào nền chính trị vùng xa xôi trong những năm 1792-1794, làm trầm trọng thêm những chia rẽ đã gây ra từ sự cải tổ Giáo Hội. Cuộc Cách Mạng vùng quê xa xôi có nhịp điệu và năng động nội tại riêng của nó, phát sinh từ cái bản chất riêng biệt của địa phương. Cái hình thức chính xác mà nền chính trị vùng quê khoác lấy là một phận sự phải hiểu biết về những lợi ích và những khó nhọc mà Cách Mạng mang lại, về những thái độ đối với Giáo Hội và về những cấu trúc xã hội địa phương. Bởi thế, khi những thái độ chính trị biến đổi trên khắp vùng quê, thái độ vững chắc nhất ở khắp nơi là sự thù ghét cho cả chế độ cũ và những khái niệm tư bản về các quyền  sở hữu tài sản riêng tư. Việc kêu gọi cho một ‘luật nông nghiệp’ tại miền Đông Bắc tương tự như việc gia tăng chống tư sản ở miền Tây, ở vùng Brittany và vài nơi khác. Tại Neulisse (Loire), bọn thanh niên có vũ trang đang tập trung cho việc bỏ phiếu chọn việc nhập ngũ năm 1793  đã thực hiện việc lựa chọn riêng của họ trong việc lựa ra 15 người mà xã  phải cung cấp: vị linh mục ngả theo hiến pháp và 14  tay tư sản “ái quốc”, những người đã hưởng lợi nhất từ cuộc Cách Mạng. Ngược lại, sự hỗn hợp đặc biệt về các đạo đức dân sự mà qua đó các thành phần Sans-Culottes  thực thụ đã được Antoine Bonnet, một chủ quán cà phê và bí thư của Ủy Bam giám sát tại Belley thuộc tỉnh Ain  nói rõ:
“Con người với cảm giác đồng cảm hơn học thức, đạo đức, nhạy cảm, nhân tính; con người phẫn nộ vì lời thì thầm  nhỏ nhẹ nhất của sự bất công; con người dũng cảm và nhiệt huyết luôn mong muốn lợi ích chung, tự do, bình đẳng hay là chết.”
Mọi khu vực miền xa xôi đều có những san sẻ từ những người Jacobins nhiệt tình thường đọc báo chí Paris và báo chí địa phương hay họ có chân trong các câu lạc bộ Jacobins và các đoàn thể công cộng. Tờ La Feuille Villagroise của Cerutti, đặc biệt nhắm tới các độc giả vùng quê xa xôi đã bán được 8000 đến 16000 ấn bản. Người ta đánh giá rằng, vì các ấn bản nhật báo được chuyền tay nhau và được phát thanh tại các cộng đồng xa xôi, độc giả của nó có thể lên tới 250,000 người trong năm 1793.  Ban quản trị hành chánh của Gers đã đăng ký mua mỗi ấn bản cho tất cả 599 xã của tỉnh. Trong cả nước có lẽ có tới 6000 câu lạc bộ Jacobins và các hịêp hội xã hội phổ thông được thành lập trong thời Khủng Bố, mặc dù nhiều hội sau đó chết yểu.  Mặc dù phổ thông nhất ờ các thị trấn nhỏ, tại vùng Provence, 75% – 90% làng xã có một hiệp hội, dấu hiệu của đời sống chính trị sinh động tại vùng Đông Nam nơi lại cũng duy trì những nhà phản Cách Mạng hăng say.
Paris thời 1792 – 1794 là cái trung tâm ồn ào xao động của cuộc Cách Mạng, nơi mà số lượng đông đảo thường dân và binh lính qua lại cùng hiện hữu một cách khó khăn với những cộng đồng ngoại ô có từ lâu đời. Những xáo trộn của thành phố thường đơn giản do cái chính sách mạnh mẽ. Trong một tình trạng như thế,  sự lan toả tin tức từ 1000 người bán báo dạo ngoài đường với nhữntg tiếng rao vang dội  của họ đã tạo nên một thành phố inh ỏi với đủ loại tin đồn pha trộn, lạc quan có, nghi ngờ có. Điều luật về” Tình Nghi” được kiến tạo để chế ngự nỗi bất an như vậy. Trong sự thực thi điều luật, các phân bộ ủy ban với cả ngàn cảnh sát của họ, tập họp từ công vụ mỗi nửa tháng  bởi tất cả các trai tráng mạnh khoẻ đã đóng một vai trò cơ bản. Dối trá, thù hận cá nhân và những lời tố cáo đã tìm được một vùng đất màu mỡ, lại còn các hoạt động của giới có thẩm quyền trong các ban bộ tự  ấn định cho cái hợp pháp và đúng đắn của họ.
Trong khoảng 18 tháng giữa tháng Tám 1792 và đầu năm 1794, sự tham gia chính trị của tầng lớp dân lao động Paris lên tới đỉnh cao. Trong khi sự thực chỉ có chừng 10% nam nhân đều đặn tham dự các buổi họp ban bộ và cũng khoảng phần trăm tương tự đám dân quân Sans-Culottes thuộc giới tư sản theo nghề nghiệp, điều này vẫn là một mức độ đáng chú ý về sự tham gia quần chúng vào thời điểm giờ lao động trong ngày quá dài, xếp hàng mua thực phẩm và những lo lắng về sự sống còn.  Điều đó phản ánh một mức độ chưa có tiền lệ trong cái thành phần xã hội của chính quyền địa phương. Thí dụ như tại Paris, một phần ba các thành viên hội đồng xã là thường dân, cũng như 4 phần 5 ở các ủy ban Cách Mạng được bầu chọn tại từng mỗi cái trong 48 ban bộ của thành phố. Mục tiêu chính trị và xã hội của đám Sans-Culottes cũng được  biểu lộ qua hơn 40 hiệp hội phổ thông với khoảng 6000 hội viên của chừng 86% là thợ thủ công và công nhân có lương; và trên hết trong các buổi hội họp các ban bộ địa phương. Một sự phân tích về các câu lạc bộ Jacobins vùng miền  trong  khoảng 1789-1791 so sánh với 1793-1795 chỉ ra rằng con số thợ thủ công và các chủ tiệm đã gia tăng từ 38.6 tới 45% và chủ trang trại từ 1.1 tới 9.6%. Tỷ lệ các thương gia và người buôn bán lại giảm đi từ 12.1 còn 8.2%, trong khi giới Giáo Sĩ cũng giảm thiểu từ 6.7 xuống 1.6%. Giới quý tộc có 0.6% trước đó đã hoàn toàn biến mất.
Mặc dù các nhà quản trị tổ chức và tổng động viên quân đội tại miền quê đối diện rất nhiều khó khăn, họ đã thành công nhiều hơn thất bại: cả người tình nguyện và người được động viên đều gia nhập quân đội rất đông, số lượng lương thực và xe cộ trưng thu đầy đủ. Tuy nhiên, chế độ Cộng Hoà Jacobins 1793-1794 là một chế độ đòi hỏi:  ngôn ngữ cùa lòng yêu nước, của chủ nghĩa Jacobins và quyền công dân được pha trộn với tiếng gọi của sự thiêng liêng, của sự xung công và lệnh trưng binh. Đó là một chế độ mà trong đó các đại diện địa phương phủ nhận bất cứ gì, đánh đập vào những giả dối của chế độ cũ và đe doạ những người cố chấp.  Theo lời một viên chức miền Nam: ‘Thời điểm của những giả dối vô lý đã qua. Quốc Hội Nghị Viện vinh danh và công nhận tài năng và đạo đức.  Cây Cộng Hoà đang bị lung lay và với đám sâu bọ đang gặm nhấm, nó sẽ đổ xuống.”
Hai ngôi làng mà cuốn sách này liên hệ đến ở đầu sách là điển hinh của những nơi đã duy trì được cái nỗ lực phi thường của chiến tranh 1793-1794. Menucourt cũng là một trong hàng ngàn các làng mạc mà những năm tháng Cách Mạng đã trôi qua tương đối bình yên: Những cải tổ của Hội Đồng Quốc Gia được chào đón và ủng hộ; sự trưng dụng người và tiếp liệu vật chất trong những năm chiến tranh được miễn cưỡng chấp nhận. Tin tức về Cách Mạng và về khủng bố đã về tới làng nhanh chóng, nhưng những sự chia rẽ chính trị tại Paris không ảnh hưởng ở đó và không ai bị hành quyết. Chỉ có một biến cố chính trị địa phương duy nhất về kết quả đã xảy ra vào 20 tháng Chín 1792.  Trong cái ngày mà quân đội Cách Mạng đang chiến đấu cho một chiến thắng quyết định đầu tiên tại Valmy ở miền Đông nước Pháp, và Quốc Hội Nghị Viện đang họp bàn tại Paris. Prosper Vacher, một thợ làm vườn trong lâu đài quý tộc đã đáp lại lời chào “Tổ Quốc muôn năm” do một nhóm 50 “cảm tử quân” bằng một sự đốp chát: “Vạn tuế Đức vua”. Tuy nhiên sau đó Vacher đã được thả ra khi anh ngỏ lời xin lỗi. Menucourt là một thị xã nhỏ và khá xa xôi để có thể tránh được những giai đoạn chia rẽ của cuộc Cách Mạng. Một số phần trách nhiệm cho việc này do bởi vị linh mục Thomas Duboscq, người chỉ mới 39 tuổi và mới đến Menucourt vào tháng Hai 1789 nhưng đã trở nên một nguồn  vững chắc như một linh mục  đi theo hiến pháp, giống như 70% linh mục trong tỉnh và là một công chức được bầu chọn.  Vào tháng Giêng 1794,  ông từ  chức linh mục. Tháng sau đó, những giáo dân cũ của ông đã hát lên những bài ca yêu nước mà ông ta đã sáng tác cho sự trồng cấy lên một cây tự do.
Tại Gabian, những năm tháng Cách Mạng không được bình yên như tại Menucourt, nhưng ngôi làng trở nên nổi tiếng cho học thuyết Cộng Hoà của họ. Một lý do cho việc này là vì sự xóa bỏ chế độ lãnh chúa đã làm giảm bớt một gánh nặng to lớn cho họ. Một lý do khác là, không như hầu hết các linh mục trong khu vực Bézier, vị linh mục chính xứ của Gabian, Pierre Blanc đã tuyên thệ trung thành trong ngày đầu năm 1791 và ở lại trong làng. Dường như là sự nổi giận về việc Blanc ủng hộ cho Cách Mạng có thể đã là một nguyên cớ cho một giai đoạn kéo dài sự vi phạm luật lệ mà sau đó trở thành phản Cách Mạng. Trong khoảng 1791-1793, một nhóm nam nữ địa phương đã vi phạm 30 tội trộm cắp, thường có bạo động, khi họ trên đường trốn chạy. Họ thích thú khi nhạo báng các viên chức Cách Mạng, những người cố bắt giữ họ. Sau vụ hành quyết vua Louis XVI và sự xâm lăng của quân Tây Ban Nha ở phía Nam vào năm 1793, họ công khai đe doạ  rằng ”quân đội Tây Ban Nha sẽ  làm cho bọn “yêu nước Gabian” nhảy múa và họ sẽ hội nhập vào bọn Tây Ban Nha để giúp chúng làm cho dân Gabian nhảy nhổm và rồi  đem đi cắt cổ…” Mọi việc đang trở nên tốt hơn tại Vendée. Nhiều tên trong đám côn đồ này có lẽ đã bị hành quyết vào 1794. Tuy nhiên, Ủy Ban Giám Sát tại Gabian tin tưởng rằng, ở cái thời điển khủng hoảng, họ chẳng có lựa chọn nào khác hơn ngoài việc bắt giữ chúng:
“Chúng ta đã làm đúng những gì chúng ta có thể. Thật là ngọt ngào và vinh quang cho chúng ta được là một phần của xã hội với sự chắc chắn có được sự tôn trọng công cộng và niềm tin sẽ không cảm thấy hối hận.”
Hai ngôi làng may mắn đã có vị linh mục ở lại giáo xứ với họ.  Đối với vai trò của Giáo Hội Công Giáo trong phong trào phản cách mạng, người ta không thể tránh khỏi việc đặt dấu hỏi về sự tồn tại của cấu trúc tôn giáo bên trong nước Pháp. Để thực thi kế hoạch khủng bố, các đại biểu được gửi đến các vùng miền như các ‘đại biểu đặc nhiệm’ chẳng hạn như Fouché trong vùng Nièvre và Javogues tại các tỉnh lỵ quanh Lyons, đã có sáng kiến đóng cửa các nhà thờ và tịch thu tất cả các kim loại trong đó cho nỗ lực phục vụ chiến tranh. Có những khu vực trên đất nước nơi người dân địa phương có khuynh hướng tham gia vào phong trào chống tôn giáo này hay có khi còn khai mào điều đó.Tuy nhiên, ở những nơi khác, nó gây phẫn uất một cách cay đắng.  Cuộc vận động chống Thiên Chúa Giáo đã trùng hợp ngẫu nhiên và thường được nhận diện cùng với những hoạt động của 45 đạo quân Cách Mạng (30,000 đến 40,000 người) hoạt động trong 56 tỉnh bang vào mùa thu 1793. Những đám dân quân Sans-Culottes này đã hỗn hợp với đám người chạy trốn pháp luật và những người khác ra vẻ chỉ đơn giản vui thích với trò tụ tập kết bạn rong chơi, tự cho mình cái nhiệm vụ đi trưng thu thực phẩm cho thành phố và quân đội, đi thu thuế và thanh trừng những người phản Cách Mạng, chiếm hữu kim loại trong nhà thờ để làm dụng cụ chiến tranh và duy trì nhiệt tâm Cách Mạng. Tầm cỡ của những đám này đa dạng từ những nhóm nhỏ chừng 10 người đến những đạo quân lớn tới 7000 tại các vùng Aveyron, Lozère và Paris.
Vào cuối mùa thu 1793, làn sóng quân sự dường như đổi chiều. Các trận chiến thắng quân Anh trong tháng Chín và Mười ở tại Hondshoote gần Dunkerque và quân Áo tại Wattignies đã đánh lui đợt xâm lăng ở miền Bắc. Sau đó các đạo quân của Wesermann đè bẹp đám tàn dư của quân nổi loạn Vendée tại Savenay ngày 23 tháng 12 đã thuyết phục nhiều người rằng ít ra sự kiểm soát thời khủng bố có thể được buông lỏng.
Tuy nhiên, sự đáp trả của chính quyền thì ngược lại. Một mặt, một nghị quyết ngày 6 tháng 12 khẳng định nguyên tắc tự do thờ phượng, việc chống Thiên Chúa Giáo được coi như sự khinh thường một tôn giáo không cần thiết. Mặt khác, một bộ luật quan trọng nhất về chính quyền địa phương được thông qua 2 hôm trước đó khẳng định sự ưu trội của chính quyền trung ương cao hơn quyền tham dự và sáng kiến của công chúng. Đìều khoản I của bộ luật 4 tháng 12 kiên định rằng: “Quốc Hội Nghị Viện là trung tâm điểm duy nhất của các sáng kiến chính quyền.”  Đối với nhiều người, chính quyền trung ương bây giờ càng ngày càng đại diện cho sự trấn áp tùy tiện, làm bất cứ gì trong vai trò của nó để bảo đảm những chiến thắng về quân sự.  Nhà báo Louis-Sébastien Mercier, người được bầu chọn giống như Antoine-Joseph Gorsas ở tỉnh lỵ Seine-et-Oise gần Paris đã bị cầm tù vào tháng Mười 1793 vì đã nói chống lại việc thanh trừng nhóm Girondins. Đối với Mercier: “Thiên Chúa đã dành cho tôi quyền sinh sống mãi mãi tại ngọn núi này hơn là trong miệng núi lửa đầy lưu huỳnh nơi chứa đầy những con người nhuộm đầy máu và bùn đất hệt như những con quái vật hung dữ.”  Tuy nhiên, những người Jacobins mà ông thù ghét đã không coi mình như những con người  khát máu và bần thỉu, mà họ cho rằng mình là những đại biểu của dân được tín nhiệm trong việc cứu vớt chế độ Cộng Hoà và tạo nên một xã hội đáng sống.

Khi nhà vua chạy trốn - chương 6

Chương 6: Lo sợ và đàn áp tại các tỉnh lỵ


Đối với cư dân thành Paris trong thời kỳ Cách Mạng và với hầu hết các nhà viết sử, cuộc tàn sát tại Champ de Mars là một biến cố đơn lẻ bi thảm nhất sau cuộc trốn chạy của nhà vua. Tuy vậy, thành phố Paris chỉ đại diện cho một phần nhỏ của nước Pháp vào năm 1791, có lẽ dân số Paris chừng 700,000 trong toàn thể 28 hay 29 triệu của hàng chục ngàn làng xã phố thị trên toàn vương quốc. Người ta không thể hiểu toàn bộ tác động của vụ Varennes mà không  đi xa rời hai bờ sông Seine và theo dõi những phản ứng của cả vùng lãnh thổ trải dài của nước Pháp, từ vùng biển Bắc tới Địa Trung Hải, từ dòng sông Rhine tới rặng Pyrenees, từ bán đảo Breton tới dãy núi Alps.

Tại các tỉnh lỵ cũng như tại Paris, tin tức về việc nhà vua bỏ trốn và rồi bị bắt lại đã gây nên một cảm giác lạ thường. Ông thầy tu Lindet viết: “Nước Pháp như bị điện giật. Cảm giác như đi từ một đầu vương quốc tới đầu đối nghịch bên kia thật quá nhanh đến không thể tin được.  Lúc đầu nguồn tin ùa đến từ thủ đô bởi những người đưa tin chính thức. Ngay sau khi tướng Lafayette nhận được tin hoàng gia biến mất vào sáng sớm 21 tháng Sáu, ông đã phái những phụ tá đáng tín  nhiệm chạy hết tốc lực trên nhiều con đường khác nhau trong một nỗ lực đi tìm và ngăn chặn vua lại. Vài giờ sau, Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia cũng theo cùng một phương thức để gửi những người đưa tin của họ mang những bản quyết nghị vắn tắt tạm thời của các đại biểu tới các vùng biên giới mặt trận Áo-Đức, hướng đi mà cuộc trốn chạy nhắm  đi tới nhất.  Nhưng chẳng bao lâu sau đó, một loạt các người đưa tin không chính thức từ thủ đô cũng bung ra tìm. Nhiều đại biểu thuộc Hội Đồng cũng thuê mướn các kỵ sĩ tư nhân để thông tin cho cử tri của họ một cách mau nhất, và trên đường đi, các kỵ sĩ đã truyền bá tin tức một cách bừa bãi bất cứ nơi nào họ cưỡi ngựa đi ngang. Một số các câu lạc bộ tại Paris và các vùng lân cận dường như cũng làm chuyện tương tự. Như vậy, vùng Saint-Quentin ở phía Bắc nước Pháp biết về các biến cố từ vùng Quatre-Nations có lẽ qua sự kích động của nhóm câu lạc bộ Cordeliers. Báo chí Paris cũng nhanh chóng tận dụng câu chuyện thời sự nóng bỏng với những ấn bản được gửi đến khắp các tỉnh lỵ.
Một khi tin tức đã vượt qua bức tường thành của thủ đô, nó mau chóng vang dội qua các mạng lưới thông tin liên lạc cùng một phương cách như biến loạn “Đêm Hãi Hùng” hai năm trước, với đủ mọi loại người hoặc cưỡi ngựa, hoặc đi xe và ngay cả chạy bộ bung ra khắp đất nước. Những người du hành ngẫu nhiên và các thông tín viên địa phương tình cờ sánh đôi cùng với những người đưa tin chính thức. Cư dân tại các thị trấn và làng xã nghe được tin qua những nguồn không chính thức, đôi khi là những phiên bản bị cắt xén và kỳ lạ, càng làm tình hình thêm căng thẳng. Cư dân vùng Bar-Le-Duc nhớ lại: “Nỗi lo âu của chúng tôi cứ tăng dần theo thời gian trong khi chờ đợi thêm các tin tức.” Theo nhận thức của họ, các viên chức đã gửi đi những thông tín viên của riêng họ dọc theo đường dây chuyền, và họ cũng tìm ra sự quả quyết và thêm các chi tiết hơn nữa.  Chẳng bao lâu đã có một hệ thống báo chí qua cửa miệng của các thông tín viên kỵ sĩ trên khắp các nẻo đường và họ trao đổi nhau các thông tin có xác thực có sai lạc khi họ gặp nhau trên đường.
Vào giữa khuya đêm thứ Ba 21 tháng Sáu, nguồn tin nhà vua biến mất đã lan ra khỏi Paris chừng 100 dặm theo kiểu vết dầu loang trải dọc theo các con lộ chính. Sau một chút chậm lại khi vượt qua các cổng thành, nơi các vệ binh lúc đầu quá nhiệt tình chặn lại mọi di chuyển, các người đưa tin đã cưỡi ngựa đi khỏi Châlons-sur-Marne lên tới phía Đông và từ Cambrai lên tới mạn Bắc. Nhưng vào cuối ngày thứ Tư, tin tức lan đi cả ngày lẫn đêm với tốc độ 5-6 dặm một giờ giống như ngọn lửa bén theo thuốc súng. Và tin nhà vua chạy trốn đã tiến tới hầu hết các vùng mặt trận phiá Bắc xa tới tận Netz, Nancy ở phía Đông, Rouen ở phía Tây và Moulins ở phía Nam. Một người đưa tin, có lẽ do đại biểu Breton gửi đi đã tới tận Nantes ở cửa sông Loire. Qua ngày thứ Năm, tin tức về biến cố đã lan tới vùng mặt trận Đông Bắc dọc theo biên giới Đức và Thụy Sĩ cùng hầu hết bờ biển Đại Tây Dương từ Dunkerque tới La Rochelle, ngoại trừ vùng bán đảo Breton. Các kỵ sĩ tiến vào Strabourg ở trên dòng sông Rhine vào lúc 5 giờ sáng, tới Lyon, thành phố lớn thứ nhì của Pháp 10 giờ rưỡi đêm. Vào sáng tinh mơ ngày thứ Sáu, thành phố cảng Bordeaux nhận được báo cáo và lại đưa tin tức đáng sợ  qua  sông Garonne tới Toulouse vào khoảng 8 giờ tối. Vào cuối ngày thứ Bẩy, họ đã tới Narseilles và vùng Địa Trung Hải, chạy dọc theo bờ biển đi qua cảng Toulon tới vùng phía Đông và qua Perpignan tới phía Nam chỉ cách biên giới Tây Ban nhà chừng 20 dặm. Cùng thời điểm đó, tin tức cuối cùng lan tới Brest ở trên đỉnh Brittany.  Nhưng cần thêm một hay hai ngày nữa để tin lan tới những làng mạc  xa xôi  trên núi nhất là tại Pyrenees, Alps và  Massif Central. Ngôi làng Aumont, nơi chỉ có thể tới được qua đường mòn trên núi qua những ngọn núi Gévaudan ở Đông Nam vẫn chưa có thông tin mãi cho đến tuần lễ kế tiếp.
Khi Louis và cả đoàn của nhà vua đã bị nhận dạng và ngăn chặn lại, lại một làn sóng tin tức ngược toả ra từ Varennes với cùng một phương cách. Ông thợ cạo Mangin đã ngày đêm cưỡi ngựa để mang tin tới Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia trong vòng 24 giờ. Nhưng những nơi khác, làn sóng thứ hai đưa tin thường di chuyển chậm hơn một chút, có lẽ vì lúc đầu nó được chuyển qua bằng hệ thống thông tín viên địa phương, cho đến khi có thông cáo chính thức từ thủ đô được chuyển lại  vào 23 tháng Sáu. Nó chỉ tới Bordeaux sau 5 ngày, Toulouse 6 ngày và Perpignan 7 ngày kể từ khi nhà vua bị bắt lại. Vì sự nhầm lẫn về các dòng tin luân lưu xuôi ngược được phát ra từ nhiều nguồn tin khác nhau, nhiều thị trấn chỉ biết đến vụ Varennes vài tiếng đồng hồ sau khi  vừa mới nghe về tin nhà vua biến mất khỏi cung điện Tuileries, và trong vài nơi còn được tin sau tới trước nữa.

Đó là một trong những biến cố tác động mãnh liệt tới cảm xúc đến nỗi người dân sẽ ghi nhớ suốt đời họ về vị trí và công việc họ đang làm khi mới nhận được thông tin. Tùy thuộc vào ngày giờ mà những người đưa tin đi tới, tin tức đến với họ ở tại cánh đồng, trong cửa tiệm đang làm việc, tại buổi đi diễu hành ngày lễ Thánh Thể hay đang ngủ tại nhà và được đánh thức bởi tiếng chuông nhà thờ giữa đêm. Tại một số thị xã, người dân đang ở trong những buổi hội họp sơ cấp, được triệu tập để chọn lựa một hội đồng lập pháp mới khi tin về cái sự kiện nhà vua biến mất  đến làm mọi người trở nên xôn xao náo động. Hầu hết khắp nơi, mọi người dân kể lại trong những bức thư gửi tới HĐCMQG là tin tức mà họ không bao giờ mong mỏi khiến họ đau khổ tột cùng, mặt mày choáng váng và vô cùng hoài nghi. Ở thị trấn Auch phía Nam, cảm xúc của họ lên cao ngất; tại Beauvais phía Bắc Paris, mọi người rất đỗi buồn phiền vì cái biến cố đáng sợ này gây nên đau đớn cho đất nước; tại Châteroux thuộc trung tâm nước Pháp, người dân cảm nhận có một vực sâu tội lỗi và chịu đựng tâm trạng như đang ở trong tình trạng bị tra tấn rất đớn đau. Nhóm Jacobins tại vùng Montmorillon có lẽ đã diễn tả cái cảm giác của nhiều người khi họ kể lại niềm hy vọng của họ ngay trong đêm biến cố Varennes rằng: “Cách Mạng cuối cùng đã hoàn thành, các đe doạ phản cách mạng đã chấm dứt và rằng giờ chúng ta có thể trở lại cuộc sống thường ngày. Nhưng sự biến mất của nhà vua đã đập tan mọi hy vọng của chúng ta và điều đó đã cảnh báo chúng ta rằng đừng mong Cách Mạng trở lại.”

Ý nghĩa của tình huynh đệ


Đối đầu với tình trạng khẩn cấp chưa hề xẩy ra này trong cả nước chính là các viên chức của một chính quyền khu vực chỉ vừa mới thành lập. Cuộc Cách Mạng đã đưa đến một sự tái cơ cấu và dân chủ hoá đầy bi kịch về hệ thống quản trị, với hơn 30 quan lại và tổng đốc trong triều đại cũ  do vua đề cử được thay thế bằng hàng ngàn các đại biểu được bầu chọn. Chính họ sẽ tuyển lựa nhân viên cho hệ thống hành chánh mới cho một nước Pháp giờ được phân chia thành 83 tỉnh, 500 quận và 40,000 thị xã lớn nhỏ. Với rất ít hoặc không có kinh nghiệm trong các vị trí đó, nhân viên phải trải qua một cuộc huấn luyện tại chỗ lớn lao trong cả năm trước đó. Thỉnh thoảng, họ phải vật lộn với một số lượng rất nhiều những luật lệ mới và những chỉ thị mà HĐCMQG gửi xuống trong hầu hết mọi lãnh vực kinh tế, tài chánh, tôn giáo và cả về đời sống nông thôn. Nhưng trong hầu hết lãnh vực, đặc biệt ở cấp tỉnh và quận và các thị trấn lớn, ban quản trị mới  được chọn từ những nhà trí thức chuyên môn và các thương gia ưu tú. Họ đã đi theo và bám chặt lấy Cách Mạng ngay từ buổi đầu và họ đã sẵn sàng, tự tin và đã kiên quyết thực thi nhiệm vụ hết sức mình.

Bị thúc đẩy phải hành động vì cuộc khủng hoảng, các viên chức nhanh chóng tổ chức các ủy ban cấp cứu, mang đại diện từ khắp các trung tâm quyền lực trong khu vực lại với nhau. Trong một thủ phủ điển hình tại Auch, Lyon hay Beauvais, giới chức thẩm quyền tỉnh lỵ triệu tập các đại biểu từ các quận lỵ trực thuộc và các hội đồng thị xã địa phương cũng như các toà án, các câu lạc bộ ái quốc, các vệ binh và cả quân đội chính quy. Nếu một thị trấn chia ra nhiều khu xóm như trong các thị xã to lớn nhất, hay khi các hội đồng bầu cử địa phương đang bận hội họp, các bộ phận này được mời gửi đại diện tới. Như vậy, tại thị trấn Thionville vùng Đông Bắc, chỉ trong ít phút, hơn 100 người đã tề tựu tới văn phòng thị trưởng, nơi có chỗ chứa lớn nhất và nhiều người trong số họ đã ở lại vị trí trong suốt ba ngày liên tục.

Cái cách tập trung để giải quyết khủng hoảng này dù có phải là cách hữu hiệu nhất hay không, thì nó cũng mang lại một sự liên kết đang rất cần thiết. Đặc biệt trong các cộng đồng rộng lớn hơn, nơi có nhiều cấp độ thẩm quyền hiện hữu bên cạnh nhau, các tổ chức đối lập đã nổi lên trong suốt năm qua giữa tỉnh và quận, giữa quận và thị xã hay giữa thị xã và tỉnh. Nhưng lúc này, khi phải đối đầu với một tình trạng khẩn cấp bất ngờ đến sững sờ, mọi viên chức các cấp lấy tiêu chí liên hiệp và hợp tác là ưu tiên cao nhất. Các nhà ái quốc đã chứng minh cái cảm giác hoà đồng mới tìm thấy này qua những lá thư gửi đến HĐCMQG. Các vị lãnh đạo ở tỉnh Dieppe sát eo biển English viết: “Tại thị trấn này có một sự liên kết lớn lao nhất giữa những bộ phận nắm giữ quyền lực khác nhau.” Tại Lyon, các nhà ái quốc được thuyết phục rằng sự an nguy của họ tuỳ thuộc vào sự liên kết nhanh chóng của tất cả các giới chức thẩm quyền và với niềm tự tin chung mà một uy lực như vậy sẽ mang đến.” Để củng cố cái cảm giác vì mục đích chung, thị trấn Saint-Quentin đã yêu cầu cả nam  lẫn nữ cùng đeo một dải băng đặc biệt có hàng chữ: “Hãy liên hiệp! để sống trong tự do hay là chết!” Quả thực, trong một số thị xã, các giới chức địa phương đã chỉ thị cho toàn thể cư dân khẳng định  sự đoàn kết qua việc đeo huy hiệu Cách Mạng trên nón, một huy hiệu ba màu đã trở thành một trong những biểu hiệu của các người yêu nước tại Paris.

Còn có những biểu tượng đầy kịch tính khác về sự liên kết mang những lờì thề hứa đầy cảm xúc mà mọi người khắp nơi tự cấu tạo ngay sau khi biết được sự biến mất của nhà vua. Người dân thị trấn nhỏ Juillac ở trung tâm nước Pháp khi hội họp  trong sảnh đường bầu cử của họ đã nhắc lại một cách sống động cái giây phút vừa nghe được nguồn tin. Lúc đầu, họ sững sờ đến ngồi im lặng một cách rầu rĩ. Thình lình, viên chủ tịch hội đồng thị xã đứng dậy hai tay đưa lên trời tuyên bố một lời thề đầy nhiệt tâm: “Tôi xin thề bảo vệ đất nước, luật pháp và Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia đến gịọt máu cuối cùng. Tôi xin thề hoặc sống trong tự do hay là chết.” Ngay tức khắc, tất cả những người có mặt đều đứng dậy giơ tay lên trời và đồng thanh la lớn: “tôi cũng xin thề như thế!” Mọi người xếp hàng dọc đi ra khỏi phòng, đồng thuận với một mục đích chung mới. Họ kéo nhau ra sảnh đường thành phố nơi các hội viên của nhóm câu lạc bộ Jacobin địa phương và các vệ binh cũng chung một lời thề.

Lần lượt thị trấn này qua thị trấn khác, lãnh đạo dân sự cũng như thường dân nam nữ già trẻ, dân quân hay binh lính và ngay cả một số rải rác các nhà quý tộc và giáo sĩ yêu nước cũng xôn xao bày tỏ những lời thề của riêng họ. Hầu hết họ làm một cách tự phát, ngay cả trước khi biết những tuyên bố tương tự được  hăng hái tuyên thệ tại Paris trong ngày 23 tháng Sáu. Và trong đa số trường hợp, họ thay thế từ “vua” bằng từ “HĐCMQG” trong lời tuyên thệ trước đây từng xử dụng. Tại Valenciennes gần biên giới nước Áo: “Chúng tôi nguyện lấy máu mình để bảo vệ tự do và hạnh phúc của đất nước.” Tại Tours, buổi lễ được cử hành ngoài trời gần sông Loire với hàng ngàn tiếng nói liên kết trong một lời thề hy sinh mạng sống để duy trì Hiến Pháp.  Bên dưới những bức tường tại thị trấn Saint-Malo trên bán đảo Breton, 4000 vệ binh vũ trang cùng với 2000 phụ nữ và trẻ em đã thề hứa trung thành với quốc gia và Hiến Pháp. Tại Cahors ở trung tâm miền Nam nước Pháp, cả nam lẫn nữ công bố lời thề tại  các vị trí riêng: “phụ nữ đứng gần khu vườn đã bắt chước cánh đàn ông lập lại những khẳng định của họ về lòng ái quốc và tình anh  em trong một cử chỉ thật xúc động.

Trong sự việc gần như  bị ám ảnh với lời thề nguyền vào giây phút khủng hoảng, người ta xử dụng một thứ ngôn ngữ biểu trưng mà hầu như ai ai cũng quen thuộc. Họ sống trong một thế giới nơi những lời thề hứa nghiêm trọng như thế này phải giữ lại được cá tính tôn giáo và duy trì được những hành động cần thiết để đi vào quân đội, hàng giáo phẩm, hay các toà án. Những người có học thức cũng quen thuộc với truyền thống tuyên thệ kiểu Hy Lạp hay La Mã cổ xưa, một truyền thống mà những lời thề phấn khích của HĐCNQG đã trực tiếp mang lại từ lúc ban đầu của cuộc Cách Mạng. Lời thề tháng Sáu 1789 khi Hội Đồng được thành lập và lời thề trên sân Tennis ba ngày sau đó đã được công khai rộng rãi, gây cảm hứng cho cả nước với một sự thi đua đầy thích thú. Càng phổ biến hơn nữa với những làn sóng tuyên thệ vào tháng Hai và tháng Bẩy 1790, như một phần của các lễ hội toàn quốc ăn mừng  trên khắp đất nước. Nhưng những lời thề trước đây luôn luôn có vẽ trừu tượng sao đó và được tuyên thệ trong những phút giây yên bình. Lúc này, người dân Pháp thấy mình đang đối diện với cái nguy hiểm thực sự của chiến tranh và sự xâm lược. Chính trong bối cảnh này, giờ phút vô cùng căng thẳng này mà họ thường gắn bó với khẩu hiệu: “tự do hay là chết” Đối với những người giờ phải đối đầu với viễn ảnh sống trong một đất nước không có một vị vua, một cá nhân luôn luôn được coi là đại diện cho sự đoàn kết của đất nước, việc thề thốt còn giữ thêm một mối liên quan. Đó là một biểu hiệu rõ ràng của một sự đoàn kết trong tình yêu nước và một sự sẵn lòng cùng làm việc và cùng chết với nhau cho sự tốt đẹp hơn của cộng đồng đất nước. Với điều này, sự dấy lên phong trào thề hứa vào tháng Sáu 1791 đóng một vai trò quan trọng trong việc làm dịu bớt nỗi lo lắng và làm thấm vào lòng người một cảm giác vì mục đích chung. Đó là những giờ phút báo hiệu sự xuất hiện của chủ nghĩa quốc gia Pháp.

Kẻ ngoại thù


Nhưng những lời thề trung thành và quyết định chết cho tổ quốc tự chúng khó lòng đầy đủ để đối đầu với khủng hoảng. Các ủy ban cứu cấp trong cả nước Pháp đối diện với nhu cầu tổ chức một sự đáp trả ngay với đủ loại các nguy nan mà cộng đồng của họ có thể phải đương đầu. Những quyết nghị ban đầu của HĐCMQG chỉ đưa ra những đề cương sơ đẳng cho hành động. Bản tuyên bố in ấn được gửi đi ngày 22 tháng Sáu chỉ thị các ủy ban quản trị ngăn chận tất cả mọi di chuyển tại các vùng biên giới mặt trận của người dân, vũ khí đạn dược, kim loại quý và lừa ngựa, đồng thời xử dụng mọi bước cần thiết để duy trì luật pháp và trật tự cũng như bảo vệ đất nước. Thế nhưng, từ vùng này qua vùng khác, đã có đủ loại các cách thức khác nhau tuỳ theo dân địa phương diễn dịch và thực thi  những quyết nghị này.

Đối với những thị trấn kế cận bờ biển hay tại biên giới với nước ngoài, điều quan tâm ngay tức khắc là sự đe doạ từ bên ngoài. Đối với đa số người dân dù tại Paris hay tỉnh lỵ, nói tới chuyện trốn chạy của nhà vua thì sự kiện dường như rõ ràng. Dù nhà vua tự ý bỏ đi hay bị bắt cóc, mọi người vẫn cho rằng nhà vua đã rời bỏ đất nước. Một khi hoàng gia đã vượt qua biên giới nước Pháp thì dường như chiến tranh là hậu quả không thể tránh khỏi. Đối với thị trấn Mézières chỉ cách biên giới vài dặm, cuộc chạy trốn chỉ có thể là đã được bảo đảm qua giới chức cầm quyền nước Áo, quốc gia lúc này đã lộ ra ý đồ rõ ràng sẽ gây chiến với Pháp. Các nhà lãnh đạo thị trấn Dole gần biên giới Thuỵ Sĩ và Đức cũng đồng ý: “Lúc này, chúng ta cần phải tự coi như đang ở trong thời kỳ chiến tranh và mối nguy đang gần đến.” Và rồi họ ban hành những chỉ đạo chi tiết cho sự động viên toàn thể xã hội, thiết lập các phương thức mà mọi công dân có thể cộng tác cả thời gian và tiền bạc cho việc bảo vệ quê hương.

Dường như ngay sau khi họ biết về cuộc khủng hoảng, các nhà lãnh đạo ở biên giới hay ở các vùng sát biển đã gửi đi các đơn vị vệ binh và binh lính chính quy tới thiết lập những hàng rào quốc phòng và cứ điểm bảo vệ xâm lăng. Thành phố Strasbourg khởi động đóng quân dọc theo bờ sông Rhine. Longwy, một thị trấn biên giới phía Bắc Luxembourg đốc thúc các làng mạc biên giới tự vũ trang và chuẩn bị chiến tranh. Tại Provence, một đoạn đường bị cô lập dành cho sự phòng thủ được dựng lên dọc theo biên giới với nước Ý và tại Perpignan, các phân đội vệ binh được chỉ thị canh giữ những lối đi qua rặng núi Pyrenees và bờ biển Địa Trung Hải gần Tây Ban Nha. Những bước phòng thủ tương tự được thực thi dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Bordeaux và Dieppe tạm thời đóng cửa hải cảng, một việc đi quá khỏi tầm chỉ đạo của Paris. Rouen thiết lập những trạm quan sát trên eo biển English từ Le Havre tới các vùng biên giới tại Le Tréport. Một hệ thống liên kết báo hiệu được chuẩn bị dọc theo phía Nam bờ biển Breton để nhanh chóng chuyển tiếp tín hiệu những quan sát đáng nghi ngờ.

Nhưng ngay cả tại những vị trí cách xa bờ biển hay biên giới một cách đáng kể cũng động viên các dân quân ra làm nhiệm vụ tuần tiễu, canh gác cửa nẻo cầu cống của thành phố. Các khẩu đại bác hoen rỉ cũng được kéo đến các vị trí để phòng thủ các kho vũ khí đạn dược và những két an toàn lưu trữ quỹ công của thành phố. Hàng rào kẽm gai được dựng lên tại các vị trí trọng yếu như hội trường thành phố, toà án, văn phòng các công sở của tỉnh và quận lỵ để bảo vệ chống lại những đe doạ nào đó mà mọi người ai cũng lo sợ nhưng không ai biết là gì.

Tình trạng đặc biệt căng thẳng tại khu vực Đông Bắc nước Pháp. Đây là vùng mà vua Louis XVI đã đi qua trong cuộc trốn chạy bất thành và chẳng cần thông minh lắm để kết luận rằng nhà vua đã cố vượt thoát tới biên giới nước Áo. Kể từ khi viên tướng Bouillé và nguyên đoàn tuỳ tùng của ông ta đào ngũ sang phía kẻ thù, lực lượng võ trang trong vùng đã không có người lãnh đạo và giới chức thẩm quyền dân sự đã phải can thiệp vào và cố ứng phó tối đa theo khả năng của họ. Dọc theo biên giới từ Metz tới Givet và Rocroi, từng đoàn người dân tình nguyện và các quân nhân yêu nước đổ xô tới sửa sang phòng thủ các đồn lũy biên giới đã bị bỏ hoang hư hỏng kể từ sau cuộc chiến 30 năm trước. Tại thành phố Sedan, ban quản trị thành phố còn tổ chức một buổi lễ đặc biệt tận hiến tất cả cho việc bảo vệ quê hương, một buổi lễ trùng hợp với lễ mừng Thánh Thể. Sau buổi lễ, khoảng 3000 công dân có quân lính bộ binh đóng trại gần đó tham gia đã khởi sự sửa chữa lại các bức tường thành và chiến hào  phòng thủ của thị trấn.

Nhưng cho dù các công dân có thể giúp đỡ tái gầy dựng phòng thủ, họ cũng không thể làm gì với vấn đề vũ khí đạn dược. Hầu như khắp mọi nơi, các làng mạc phố thị đều nhận ra rằng kho vũ khí của họ quá thô sơ đến thảm hại. Viên tướng Bouillé đã lén lút tháo gỡ quân dụng vũ khí khỏi những cứ điểm trọng yếu tại Lorraine để tập trung hết vào Montmédy cho việc bảo vệ nhà vua. Khi ban lãnh đạo địa phương khám phá ra điều này, nhiều người giả thiết rằng đó là một phần trong âm mưu làm yếu đi sự phòng thủ với dự đoán một cuộc xâm lăng. Khắp nơi thuộc vùng Đông Bắc, sau sự kiện Varennes từng ngày từng giờ, người dân địa phương bắt đầu quan tâm đến sự xuất hiện của quân thù. Cũng không có gì lạ nếu có người đã bắt đầu nhìn thấy chúng.

Nguồn gốc của sự hoảng hốt về một cuộc xâm lăng quét qua vùng Đông Bắc nước Pháp có thể nhận diện một cách chính xác. Vào sáng sớm hôm 22 tháng Sáu, tướng Bouillé vẫn hy vọng  có thể giải cứu được nhà vua nên đã ra lệnh  cho một trung đoàn bộ binh Thụy Sĩ được Pháp trả lương tiến về phía Tây từ thị trấn Metz đi tới sông Meuse, nơi chỉ cách Varennes 10 dặm. Thực ra, khi trung đoàn này tới gần điểm đến đêm hôm đó, hầu hết đám lính đã nổi loạn và từ chối đi tới. Họ tuyên bố là không được thuê mướn để chống lại người dân nước Pháp. Các sĩ quan bèn bỏ trốn và đám quân còn lại rút lui về Verdun. Nhưng sự việc xảy ra trong giây phút cực kỳ căng thẳng, việc hành quân vượt qua biên giới  của hàng  mấy trăm binh lính võ trang lại nói tiếng Đức lạ lùng này đã làm dấy lên sự hỗn loạn trong dân chúng địa phương.

Vào xế chiều ngày 22 tháng Sáu, giới chức thẩm quyền tại Verdun đã gửi thông điệp đến những làng mạc chung quanh rằng có một đạo quân đang di chuyển đến Varennes và rằng tất cả các vệ binh có mặt phải đi ngay tới Meuse và phá hủy những cây cầu nếu thấy cần thiết để ngăn cuộc tấn công lại. Không lâu sau đó, các nhà lãnh đạo Varennes bị ảnh hưởng vì sự hoảng hốt đã ban hành một lời kêu gọi tiếp cứu khẩn cấp. Chỉ trong vài giờ, hệ thống thông tin liên lạc đã từng  lan toả tin nhà vua bị bắt giữ lại được xử dụng để loan báo tin quân thù đang tiến tới. Trong 2 đêm liền, vệ binh nguyên cả khu vực đã được huy động để đến tiếp cứu Varennes.

Bao giờ cũng thế, khi chuyển tiếp các lời kêu gọi tiếp ứng, các làng xã phố thị  luôn luôn  phóng đại hay thêm bớt vào cái thông điệp gốc ban đầu. Trong một bầu không khí lo lắng và căng thẳng, có những sự hiểu lầm không thể tránh khỏi và có những liên lạc sai lầm. Thế nhưng đó cũng là điều tự nhiên cho các viên chức hoảng sợ phóng đại một chút để chắc chắn là tình thế xem ra đã đủ nguy kịch để dấy thêm những nơi khác cho sự tiếp ứng và cũng để chứng thực cho sự hoảng sợ của riêng họ. Vì vậy, khi người dân tại Clermont chuyển đi lời kêu gọi tiếp ứng của Varennes để bay tới  phụ giúp anh  em một tay, họ đã  làm lớn câu chuyện lên cách nào đó, với sự tuyên bố rằng cuộc chiến đã đang xảy ra giữa người dân yêu nước và quân thù. Làng mạc kế tiếp lại tô điểm thêm cho câu chuyện đi xa hơn, khẳng định rằng chiến trận vô cùng ác liệt và rằng đã có nhiều người dân Pháp bị giết. Vào sáng hôm sau, khi tin tức tiến tới  phía cực Nam của tỉnh Meuse, danh từ “quân thù” đã có một ý nghĩa thay đổi một cách tinh tế: sự đe doạ không còn từ trung đoàn lính đánh thuê Thụy Sĩ được Pháp trả lương nữa, mà tự nó đã trở thành danh từ “đế quốc”, một đoàn quân nước Áo giờ đang nhanh chóng tiến tới khỏi Meuse.

Cùng lúc đó, tin tức đã đi về phía Tây băng qua cánh rừng Argonne để tới Sainte-Menehould. Thị trấn vừa mới hồi phục sau một đêm bi thảm và kiệt sức. Sự đối đầu với đám kỵ binh người Đức của Damas, sự xuất hiện bất ngờ của hoàng gia và sự tàn phá gây ra bởi đám kỵ binh của công tước Choiseul ở phía Bắc thị trấn đã làm cư dân gần như hoảng hốt. Lúc này họ lại nghe, hoặc tưởng tượng là đã nghe thấy, rằng bọn lính Áo đã chiếm được và đã tàn phá Varennes và giờ đang tiến thẳng về đây, tai hoạ có lẽ sẽ đến với người dân Sainte-Menehould, vì có lẽ bọn chúng sẽ trừng phạt họ như đã trừng phạt Varennes vì đã góp phần vào việc bắt giữ nhà vua. Họ gửi đi một thông điệp kêu cứu: “Bọn lính đế quốc đã cướp phá Varennes. Vì thế nhân danh Tổ Quốc, chúng tôi khẩn nài hãy đến hỗ trợ chúng tôi. Cấp báo! Chúng tôi đang rất thiếu thốn vũ khí đạn dược và nhất là nhân lực.”

Sang ngày 23 tháng Sáu, tin đồn về xâm lăng đã tạo nên một làn sóng hoảng sợ không khác chi cuộc Đại Kinh Hãi năm 1789. Khoảng 9 giờ sáng tin tức đã lan đến Châlons-sur-Marne, nơi hoàng gia đã ở lại đêm trên hành trình trở lại Paris. Tin đồn lan nhanh qua thị trấn rằng quân Áo đã tới ngay bên ngoài cổng thành. Chẳng bao lâu, rối loạn xảy ra khi người người hốt hoảng tìm kiếm vũ khí bảo vệ phòng thân. Các cửa nẻo của thị sảnh bị phá sập. Viên thị trưởng bị đám đông giận dữ vây quanh ép buộc ông phải mở kho quân trang vũ khí trước khi ông nhảy từ một cửa sổ trên lầu xuống thoát ra ngoài. Vừa sợ hãi vì bọn lính Áo tưởng tượng, vừa vì người dân trong thị trấn la ó đòi có hành động, các viên chức đã huy động vệ binh trong cả tỉnh và hối thúc mọi người dân đến hỗ trợ: “ Hãy can đảm lên! Hãy tự chứng minh sự tự do của chúng ta có giá như thế nào bằng cách liều mình bảo vệ nó.”

Lúc này đối với nhiều người, dường như rõ ràng bọn lính Áo đã xâm lược Pháp để cướp lại nhà vua. Và từ quan điểm này, sự hốt hoảng của họ theo sát diễn tiến hành trình trở lại Paris của nhà vua. Vệ binh, đôi khi có cả phụ nữ và trẻ em đi theo đã có mặt khắp nơi trên đường, đi tới hỗ trợ Varennes, Clermont hay Châlons, hay quay về nhà khi họ khám phá ra rằng kẻ thù đã “rút lui”. Hàng ngàn người khác lại vội vã tham gia vào việc hộ tống nhà vua, lúc này lại trở thành việc bảo vệ ông khỏi tay bọn Áo.Thời tiết trở nên khô nóng. Số lượng đông đảo người bước đi trên đường đã gây nên những đám bụi mù giữa vùng đất trắng xoá của vùng Champagne phía Bắc. Bụi đường, sự mơ hồ, tiếng trống và những bước chân nặng nhọc trong đêm hay giữa buổi choạng vạng tối có thể dễ dàng khẳng định cho nỗi sợ hãi nhất của người ta rằng đoàn quân xâm lược đangở phía bên kia đồi hay tại khu rừng bên kia sông.

Trong vòng 2 ngày, tin tức khủng khiếp đã toả ra khắp vùng Champagne và lan tới một phần của các tỉnh Lorraine, Picardy và Idle-de-France. Tại Lorraine, Thị trấn thành lũy Netz đã huy động vệ binh và phái họ đến Verdun lần thứ hai chỉ trong 2 ngày. Thionville ở phía Bắc của Metz cũng nghe được tin đồn xâm lược, nhưng giờ có sự lầm lẫn về  chiều hướng của sự tấn công. Cư dân thị trấn đã bắt đầu phá hủy các cây cầu băng qua sông Moselle với dự đoán một cuộc xâm lăng của quân Đức ở xa xa về phía Đông. Cùng lúc đó, lan toả từ làng này sang làng khác với cường độ tăng lên khắp nơi theo tiếng chuông báo động của nhà thờ, sự hốt hoảng bùng lên tới vùng Tây Bắc tới tận Charleville và vùng tiền tuyến phía Bắc. Khi người dân trong thành phố Reims nghe thấy tin đồn, họ bèn chuyển tiếp qua phía Tây tỉnh Soissons và Laon. Vào buổi sáng ngày 24 tháng Sáu, nỗi lo sợ đã quét qua khỏi con sông Oise tới tỉnh Picarfy. Lúc này sự đe dọa lại thêm phần thêu dệt anh hùng tính. Chuyện được kể là một đoàn quân Áo từ 40,000 đến 50,000, có kẻ nói 60,000 đã chận được nhà vua lại. Bọn chúng đã phá hủy Varennes và Sainte-Menehould, đã di chuyển qua khỏi Châlons và tàn phá bất cứ gì chúng gặp trên đường, lửa khói và giết chóc khắp nơi. Chiều hôm đó, một ngày trước khi vua về tới, tin đồn về cuộc xâm lăng từ phía Đông đã kích động một phong trào bạo loạn trong đám thường dân ngay tại Paris.

Những ngày kế tiếp, 4 khu vực khác của nước Pháp cũng bị xáo trộn với sự hoảng hốt về xâm lược tương tự.  Một cuộc chạm súng giữa binh lính và đám buôn lậu ở vùng núi rừng Pyrenees phía Tây tạo ra tin đồn rằng quân Tây Ban Nha đã vượt biên giới và đang tiến vào 3 vùng thung lũng ở Tây Nam nước Pháp. Sau đó là hàng chục cộng đồng từ Pau đến Bayonne và xa tới tận phía Bắc là  Bordeaux cũng cấp tốc đưa vệ binh tới đối đầu với kẻ thù. Dọc theo vùng giữa  bờ biển Đại Tây Dương, sự xuất hiện của nhiều cánh buồm không rõ lai lịch bên ngoài Saint-Hilaire-de-Riez tức thì tạo nên một báo cáo về sự xâm lược cùa Anh Quốc lan nhanh chóng khắp vùng Poitou. Tại Brittany, một cuộc chiến nho nhỏ gần Saint-Malo xảy ra giữa vệ binh và đám quý tộc lưu vong đang đi thuyền tới Jersey cũng gây nên một tin đồn khác. Chuyện kể rằng có 6000 quân lính đã đổ bộ từ 40 chuến thuyền của Anh và đang di chuyển dọc theo bờ biển về phía Tây. Vệ binh được huy động từ rất xa như Rennes và Brest để nhanh chóng tập họp lại chống bọn xâm lược cứu quê hương.

Và rồi thật mau chóng, cũng gần như lúc bắt đầu, các hoảng hốt đủ loại trên biến mất. Các thông điệp khẩn cấp từ những nguồn cung cấp tin xâm lược tự xác định là chẳng có quân ngoại bang nào xuất hiện, hay nếu đã xuất hiện thì bọn chúng đã rút lui.  Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia lấy cơ hội để bác bỏ các nguồn tin này là không chứng cớ.  Tuy vậy, tin đồn cũng gặp phải sự châm biếm của một số các ban quản trị đia phương. Đáng kể là tất cả những nỗi lo sợ xâm lược đã khởi sự từ các vùng không hay ít bị tác động bởi biến cố “Đại Khủng Khiếp” năm 1789. Nhưng một khi tin đồn lan tới những vùng miền đã trải nghiệm về bạo lực và tình trạng vô chính quyền của cơn hoảng hốt trước đó, không dễ gì người dân họ tin. Thí dụ tại Château-Thierry, một thị trấn đã từng bị rung chuyển trong biến cố “Đại Khủng Khiếp”, các lãnh đạo quận lỵ kết luận rằng cuộc xâm lược được tuyên bố trên thật là khó tin đến nỗi câu chuyện giống như một trò nguỵ tạo của kẻ thù, một âm mưu nhằm chia rẽ quốc gia. Họ không những từ chối chuyển tin tức đi mà còn cho người đi điều tra về nguồn gốc của trò nguỵ tạo từ đâu. Đặc biệt trong số những trí thức ưu tú, ký ức về bạo loạn và tình trạng vô chính phủ của lần gặp gỡ trước đó với những kẻ thù tưởng tượng dường như đã truyền bá cho họ cái tư tưởng đi ngược lại với những hốt hoảng theo sau.

Kẻ nội thù


Khắp nơi trên nước Pháp, ngay tại những vùng không có sự hoảng hốt, sự bất ngờ biến mất của nhà vua cũng gây nên sự sợ hãi một cuộc xâm lăng có thể xảy ra. Nhưng cuộc khủng hoảng cũng dấy lên nỗi lo sợ về kẻ nội thù, những âm mưu bí mật nhằm chống lại Cách Mạng. Một quan điểm về âm mưu của thế giới thật khó đồng nhất trong thời kỳ cách mạng. Trong nhiều thế kỷ, người dân đổ cho sự thiếu hụt ngũ cốc là do những hoạt động giấu giếm của đủ loại các  nhóm vô lại nhằm kiếm lợi nhuận hay để trả thù cho những sai trái mà họ đã phải gánh chịu trước đó. Mặc dù sự ra đời của nhiều phương thức phân tích mới đặt căn bản trên sự giải thích khoa học một cách hợp lý, thí dụ như nối kết nạn đói với những điều kiện khí tượng tự nhiên hay với phương tiện vận tải thô sơ nghèo nàn, đại đa số người dân tiếp tục liên hệ tất cả những sai trái trên thế giới tới những hành động cố ý của những cá nhân có những kế hoạch mưu đồ. Ngay cả với những người văn minh hơn trong các xã hội tỉnh thành, một giả thiết như vậy dường như không thể xảy ra trong bối cảnh Cách Mạng bởi bất cứ phương tiện nào. Các nhà ái quốc chỉ biết rất rõ rằng những thay đổi có được từ  năm 1789 đã kích động lên sự đối nghịch đắng cay của 2 nhóm đặc biệt: giới quý tộc và giới giáo sĩ.
Mặc dù một nhóm nhỏ quý tộc tự do đã sớm bước theo con đường Cách Mạng, tuyệt đại đa số chẳng hài lòng với những biến cố. Bực bội với việc HĐCMQG tấn công vào những đặc quyền phong kiến mà họ từng được hưởng, họ càng giận dữ hơn với sự đàn áp vào cái tước vị “quý tộc” trong tháng Sáu 1790. Trong cái quan điểm kỳ thị giai cấp của xã hội, cái ý tưởng mà người ta làm luật để loại bỏ sự hiện hữu của giới quý tộc có vẻ vô lý giống như – theo ngôn ngữ của một nam tước – “người ta không thể thay đổi một cây sồi thành một cây thông chỉ bằng một nghị quyết đơn giản”. Để chắc chắn, sau mùa hè 1789, hầu hết giới quý tộc tỉnh thành ra vẻ thận trọng, giữ gìn lời ăn tiếng nói và rút lui vào trong lâu đài của họ nơi họ hy vọng tránh qua cơn bão. Nhưng có một số không thể kềm hãm môi miệng; họ nhạo báng  những người yêu nước địa phương, từ chối  công nhận sự hiện hữu của HĐCMQG và các quyền của con người (quyền chỉ dành cho đàn ông trưởng thành) và họ tuyên đoán rằng những thay đổi trước đây sẽ không tồn tại lâu. Khi họ tập trung với nhau trong những dịp xã hội hay làm việc thiện nguyện, họ lại càng ít kiềm chế hơn về những nhận xét  thô bỉ hạ thấp cuộc Cách Mạng và những nhà lãnh đạo Cách Mạng cùng với những lời lẽ tiên đoán tai hoạ cho cả hai. Những lời lẽ tiên đoán đó nảy sinh từ sự bất lực và đắng cay thường bị nghe lén bởi hàng xóm và những đầy tớ của họ. Khi được thêu dệt vẽ vời cho hợp lý và truyền tới tai cộng đồng, những chuyện trò như vậy có thể biến thành chứng cớ của các âm mưu.
Sự diễn dịch về âm mưu như vậy càng đáng tin hơn khi mọi người biết về những đám quân đi lưu vong tập trung  bên kia bờ sông Rhine, về bọn phản cách mạng đã trốn khỏi nước Pháp và quyết tâm chấm dứt Cách Mạng. Với ưu thế biết hết chuyện đã xảy ra, thì rõ ràng là những đám quân lưu vong đó bao gồm đa số là đám sĩ quan quý tộc và rất ít đám binh lính thường dân, chứng tỏ  rất ít nguy hại cho đất nước. Nhưng đối với những nhà ái quốc vào mùa xuân 1791, cái đe doạ thực sự thì khó khăn đánh giá hơn nhiều.  Thật khó có thể tin rằng con người từng luôn luôn nắm nhiều quyền lực trong xã hội  trên tay  giờ thình lình dừng lại mọi chuyện có ảnh hưởng tới họ. Nhiều người tin rằng đám lãnh đạo lưu vong, công tước d’Artois và ông hoàng de Condé đang bí mật hỗ trợ đám quý tộc tại tỉnh lỵ. Trong những tháng trước sự kiện Varennes, một người dân ở Picardy đã cho HĐCMQG biết về những nhóm quý tộc tập trung ở một lâu đài gần đó và ông ta tố cáo rằng có những âm mưu đang hình thành trong số những người có  ý định tàn ác chuẩn bị làm cuộc phản cách mạng. Tại thành phố Lorraine phía Nam, có những báo cáo về một nhóm khác được biết như là bọn mưu đồ phản cách mạng, di chuyển từ lâu đài này qua lâu đài khác để tổ chức việc quy tụ giới quý tộc địa phương và xóa bỏ Hiến Pháp. Một bức thư đến từ Province loan báo có chứng cớ của một mạng lưới rộng lớn được tổ chức tại mỗi khu vực của đất nước do đám quý tộc lưu vong có tên là “hiệp hội quý tộc hào phóng” thề hứa tuân lệnh công tước d’Artois. Những âm mưu đó có thực sự hiện hữu không thật khó để biết rõ. Nhưng những bức thư như vậy tiết lộ một xác quyết rộng rãi vào mùa xuân 1791 rằng toàn bộ giới quý tộc vùng miền đều có tham dự vào các hoạt động phản cách mạng.
Những nỗi lo sợ như thế càng tăng cường độ với sự khủng hoảng về tôn giáo bắt đầu xen lẫn vào nước Pháp kể từ đầu năm 1791. Vào mùa xuân đó, non nửa hàng giáo sĩ ở miền quê từ chối tuyên thệ trung thành với những văn bản được chỉ định bởi HĐCMQG, cùng những mệnh lệnh được ban hành thay thế những linh mục “ngoan cố.”  Những khu vực thật ương ngạnh  như ở miền Tây nước Pháp hay các vùng ngoại vi ở phía Đông và phía Nam, nhiều nhà lãnh đạo cảm thấy như bị đe doạ và bị bao vây. Bất cứ nơi nào có những nhóm từ chối tuyên thệ đông đảo, các ban quản trị đều cố tìm ra những âm mưu bí mật thông đồng, có lẽ được khởi đầu bởi đám Giám mục ngoan cố, lúc này đang sống ở ngoại quốc và có liên hệ chặt chẽ với đám quý tộc lưu vong. Ngay từ tháng Năm, các chủ sự phòng tại Laon ở Đông Bắc Paris đã có vẻ bị ám ảnh với tình trạng nguy ngập do sự khủng hoảng về chuyện tuyên thệ gây nên trong vùng. Trongt thâm tâm họ không còn nghi ngờ gì về chuyện giáo sĩ từ chối tuyên thệ có liên quan đến những đầu não có âm mưu nổi loạn cả trong và ngoài nước.
Vì vậy, khi tin tức nhà vua đào tẩu loan ra, hầu hết các nhà ái quốc  trong cả nước đã đặt giả thiết ngay về sự hiện hữu của những âm mưu nội tại quyết tâm tiêu diệt Cách Mạng và rõ ràng có dính dáng tới bọn ngoại thù. Ban lãnh đạo của một thị xã viết: “Sự biến mất của hoàng gia đã kích động một phong trào phẫn nộ chống lại bọn thù nghịch với lợi ích chung. Những tuyên bố táo bạo của một số người, sự di cư ra nước ngoài của một số khác, sự từ chối tuyên thệ của một số giáo sĩ, tất cả đã chỉ rõ về một âm mưu gây tội ác. Vấn đề thực sự của các nhà quản trị, một vấn đề mà nó làm bận tâm các nhà Cách Mạng trong nhiều năm tới, là họ nên đáp trả những đe doạ đó như thế nào. Và ở đây, họ bị dầy xé sâu xa. Một mặt, hầu hết các viên chức được uỷ thác  giữ khái niệm công lý và luật pháp bình đẳng cho đám quý tộc và giáo sĩ như tất cả những người khác, Sau hết, những lý tưởng như vậy là từng phần và nguyên vẹn bản tuyên bố về nhân quyền và công dân quyền. Như chính họ là những người có tài sản, các viên chức nhớ lại rất rõ ràng những hỗn loạn và vô trật tự vào cái mùa hè đầu tiên của cuộc Cách Mạng, và họ lo lắng rằng những kẻ bị tố cáo tình nghi cần được xét xử tại toà chứ không phải từ đám đông. Những chỉ đạo của họ trong tháng Sáu và tháng Bẩy gồm đầu những tu chính án về việc cần thiết duy trì pháp luật. Thí dụ như ở Auch, các viên chức đã thúc giục mọi người tỏ ra hoàn toàn tuân theo pháp luật: “Hỡi các công dân! Đây là lúc chúng ta phải quyết định chúng ta có thực sự tự do hay không hay vẫn bị trói buộc vào những xiềng xích mới của tình trạng vô chính phủ?”
Mặt khác, những giá trị về công lý và pháp luật bình đẳng phụ thuộc vào sự hiện hữu liên tục của Hiến Pháp mới, và các nhà cai trị để ý tới sự đe doạ gây ra  cho sự sống còn của Cách mạng bởi sự trốn chạy của nhà vua và những âm mưu nhận thấy được. Nên có hay không những tình trạng khẩn cấp mà trong đó sự phòng thủ đất nước chứng thực cho những hành động có tính cách trấn áp mà bình thường là bất hợp pháp không? Như khi Charles Lameth tuyên bố: “Thà rằng thi hành một sự bất công tạm thời hơn là nhìn thấy quốc gia mất đi.” Trong bối cảnh này, những chỉ thị của HĐCMQG về việc làm mọi bước cần thiết để duy trì pháp luật và phòng ngự đất nước đặc biệt trở nên mơ hồ và co giãn. Những chỉ thị đó có thể được dễ dàng diễn dịch như một tấm màn che thực sự cho các hành động áp chế.
Hơn nữa, các viên chức cấp địa phương đã không hành động một cách trống rỗng. Luôn luôn họ tính đến ý kiến của người dân dưới tay họ quản trị và những nghi ngờ cũng như nỗi khát khao xử dụng bạo lực của người dân thì ai cũng hiểu. Đặc biệt có 2 nhóm người đã thúc đẩy các cấp lãnh đạo  hành xử những biện pháp áp chế nhiều hơn vào những tháng ngày sau 21 tháng Sáu. Đó là đám đông sống tại đô thị và các vệ binh. Trong rất nhiều cộng đồng, tin nhà vua chạy trốn và bị bắt lại tại Varennes khởi đầu cho những bùng nổ tự phát các vụ bạo động quần chúng chống lại các nhà quý tộc và giáo sĩ địa phương. Đôi khi giới chức thẩm quyền hảnh động ngay để chấn chỉnh lại những xúc cảm như vậy. Những người danh tiếng tại Cahors đã có óc sáng tạo khá bất thường trong khía cạnh này khi tổ chức một lễ hội “toàn quốc đặc biệt, có lẽ là để đề xướng những kế hoạch đã đang tiến hành cho ngày lễ 14 tháng Bẩy sắp tới. Có cuộc diễn hành của vệ binh, có ban nhạc, những bài diễn văn yêu nước của các giáo sĩ (công nhận) Hiến Pháp, có sự trình bày lại bài ca “ça ira!” và một lời thề nghiêm trọng  được tuyên bố bởi cả nam nữ trung thành với tổ quốc và pháp luật. Tại Strasbourg, một màn trình diễn nhạo báng được tổ chức với các  hình nộm bằng rơm Bouillé và Klinglin và Heyman, đám tùỷ tùng của viên tướng được kéo đi phô diễn trên đường trên một chiếc xe kéo và sau đó được đối đi ngay tại công viên thành phố giữa tiếng reo hò của dân chúng.
Nhưng đối với nhiều viên chức, sự bằng lòng dưới sức ép của đám đông dường như tốt hơn sự can đảm. Các nhà cai trị tại Brittany đặc biệt nói rõ ràng khi diễn tả tình trạng khó xử này của họ. Vào cuối tháng Sáu họ viết: “Sự lo âu và phẫn nộ của dân chúng đã lên đến cực điểm. Vào giữa lúc vô cùng kích động này, thật không thể nào nói lý lẽ mà được nghe. Chúng tôi phải xoa dịu và tuỳ theo những nhiệt tâm như thế nếu muốn ngăn họ đi quá  lằn ranh kiểm soát và vẫn duy trì được nể trọng trong ý kiến công chúng, nếu không thì không thể nào quản trị.
Có lẽ không có một vấn đề đơn lẻ nào dấy lên mối lo ngại lớn lao đối với người dân thường hơn là sự kiểm soát các đồn lũy của thành phố.  Chìa khoá của những cứ điểm này ở trong tay các viên chỉ huy quân sự địa phương, luôn luôn vẫn là các nhà quý tộc. Sự phản bội của tướng Bouillé và toàn ban tham mưu của ông đã làm tăng cường độ nghi ngờ chống lại tất cả bọn họ.  Tại Strasbourg, Verdun, Dunjerque và La Rochelle, mỗi thành phố có đồn lũy trên dưới dọc theo bờ biển và các vùng biên giới, sự đòi hỏi của dân chúng buộc các nhà quản trị dân sự phải tiếp quản kiểm tra các đồn lũy địa phương. Như các trưởng lão tại Cambrai giải thích: “Dân chúng coi đám giáo sĩ và quý tộc chính là những tác giả của vụ việc bắt cóc nhà vua.” Vì vậy, các viên chức cảm thấy buộc lòng phải nắm lấy việc kiểm soát quốc phòng của thành phố, bởi vì trong tình trạng hiện tại, thật sự vô cùng nguy hiểm khi làm trái ý công chúng, một yếu tố thiết yếu của lòng ái quốc.”
Áp lực đòi có đủ loại hình thức các hành động siêu luật pháp cũng đến từ hàng ngũ vệ binh.  Như chúng ta đã thấy, khắp cả nước , sự động viên các dân quân địa phương đã là biện pháp đầu tiên được xử dụng ngay khi có tin nhà vua chạy trốn.  Hội Đồng Quốc Gia đã ra quyết nghị cho các danh sách tuyển mộ các vệ binh được sẵn sang ra chiến trận trong trường hợp  đất nước bị xâm lăng, và hầu như khắp nơi, người ta đổ xô  đi đăng ký với một lòng nhiệt thành lạ thường. Tại Lyon,  chỉ riêng trong thị xã có hơn 800  người mới tuyển mộ được chào mừng. Tại La Rochelle, những buổi lội họp tự phát của người dân trên đường phố hay trong khu vực đã quyết định thành lập 6 đại đội mới. Ngay cả một làng nhỏ như Cuxac, các vệ binh nông dân nghe nói cũng bùng cháy khát vọng lên đường cứu quốc.
Hầu hết các vệ binh đều mạnh mẽ thực thi các mục tiêu của Cách Mạng.  Họ thề thốt bảo vệ Hiến Pháp chống lại mọi kẻ thù, và cái kinh nghiệm Varennes càng củng cố thêm sự nghi ngờ của họ đối với giới quý tộc và giáo sĩ ngoan cố. Nhiều đơn vị nhanh chóng trục xuất tất cả các quý tộc trong hàng ngũ, bởi vì “sự thận trọng và an toàn của đất nước ngăn cản chúng tôi giao phó quân lính cho những cá nhân mà lợi ích của chúng đối nghịch với lợi ích Cách Mạng.” Hơn nữa, nếu họ thi hành nhiệm vụ của họ hoàn hảo và đạt được vị thế mà họ thấy mình xứng đáng, các tân vệ binh này rõ ràng cần được trang bị vũ khí đạn dược. Việc săn lùng vũ khí đạn dược cho những dân quân mới có điểm thuận lợi là không những giải trừ vũ khí của bọn phản Cách Mạng mà còn có vũ khí trao vào tay những người yêu nước. Hầu như khắp nơi trên toàn quốc sau ngày 21 tháng Sáu, vệ binh đã tập họp thành những toán quân đáng sợ đi trấn áp tại mọi tỉnh thành.

Giữa luật pháp và phương tiện


Đáp lại sức ép của quần chúng và thích nghi với sự rộng  rãi của Hội Đồng Quốc Gia cho phép làm mọi việc cần thiết để bảo vệ đất nước, các hội đồng quản trị trong cả nước xử dụng một loạt các biện pháp chống lại “bọn nội thù”. Trong số có nhiều biện pháp vừa bất hợp pháp vừa vi phạm bản Tuyên Ngôn về Nhân Quyền.  Nhưng cuộc khủng hoảng dường như chưa từng xảy ra và sự nguy hiểm về các âm mưu quá hiển nhiên đến nỗi các viên chức đã quyết định làm mọi thứ cần thiết và thích hợp để ngăn chận những mưu đồ bất chánh của kẻ thù.
Vì vậy, hầu hết giới chức địa phương các nơi bắt đầu mở lại để đọc kiểm tra hết những lá thư được gửi qua bưu điện, mặc cho những nghị quyết nhắc nhở về tính bất khả xâm phạm của thư từ. Hội đồng của một thị trấn nhỏ tại Lorraine còn cẩn thận giải thích lý do: “Kẻ thù cả nội lẫn ngoại của chúng ta sẽ không bỏ qua bất cứ gì có thể làm để đạt được những mưu đồ ghê gớm của chúng chống lại đất nước. Vì thế, không có sự tiết lộ bất cứ bí mật gia đình nào, có lẽ ta phải thận trọng xem xét kỹ càng trong bưu điện về bất cứ tương quan nào đáng nghi ngờ.” Trong thực tế, việc định nghĩa về mối tương quan đáng nghi ngờ rất đa dạng từ thị trấn này qua thị trấn khác. Một số viên chức kiểm tra mọi thư từ đến và đi từ ngoại quốc. Nơi khác lại chú trọng đến thư từ gửi đi từ những giám mục “ngoan cố” hay gửi đến từ đám quý tộc hay giáo sĩ bị nghi ngờ. Hầu hết các lá thư bị kiểm soát chẳng tiết lộ được gì mặc dù những nỗ llực tối đa của các nhà ái quốc để tìm ra các âm mưu trong những lời lẽ trò chuyện gia đình vớ vẩn. Những số lượng lớn chất đống trong kho lưu trữ của Ủy Ban Nghiên cứu của Hội Đồng, chẳng bao giờ được giao trả, và cũng mang lại rất ít ánh sáng cho các đại biểu năm 1791 cũng như cho các sử gia ngày nay. Nhưng đôi khi, những lá thư đã mở ra lại có những hệ quả lớn lao cho cá nhân. Một đoạn văn ngắn dường như vô hại từ một quý tộc lưu vong gửi đến đại lý công việc làm ăn của họ ở gần Orleans, một ông Petit nào đó, đã bị can thiệp và tiết lộ ra công chúng, dẫn tới việc người đại lý xém bị giết hại và ông ta bị giam giữ lâu dài trong nhà giam thị trấn. Ông Petit  hãi sợ này viết: “Từng giây từng phút, tôi dường như  nghe đám đông la hét đòi xử lý nạn nhân.”
Nhiều chức sắc cũng chấp nhận việc bắt giữ một cách sai luật pháp các du khách. Trong việc diễn giải rộng rãi luật cấm đoán cá nhân vượt biên giới của HĐCMQG, các hội đồng quản trị bắt đầu ngăn chận những  du khách  vô danh bất cứ  họ ở nơi đâu, đặc biệt với những người quý tộc hay người ăn mặc lạ thường hoặc nói năng lạ lùng hay cả khi tỏ ra bối rối. Rõ ràng không có lấy một phút rảnh rang đi đâu cả, HĐCMQG cứ tràn ngập thư từ khẩn cầu từ những người không may mắn tự nhiên bị giam giữ trong cuộc khủng hoảng, đôi khi kéo dài nhiều tuần lễ khi họ bị từ chối quyền ‘habeas corpus’ được Hiến Pháp bảo đảm (quyền tạm giam tối đa được phép). Tại Cahors, vệ binh bắt giữ 2 thương gia người Bỉ  có giọng nói mang âm hưởng ngoại quốc trên đường đến nước Ý. Ban quản trị thị trấn biện hộ cho sự bắt giữ của họ vì mối lo ngại một cuộc xâm lăng của đoàn quân nước ngoài sắp xảy ra. Để bảo vệ Hiến Pháp không bị hủy hoại, họ cần có biện pháp đề phòng cẩn trọng. Trong vụ này, 2 thương gia Bỉ bị tạm giam đến tận giữa tháng Tám mới thả và họ chỉ còn biết than trách số phận xui xẻo của mình. Ở nơi khác, giới chức thẩm quyền tạm thời bắt giữ một người thổi kèn clarinet thất cơ lỡ vận, một bác sĩ thú y làm việc cho chuồng ngựa hoàng gia trên đường đến Brussels và một tay bá tước đáng nghi đi lang thang qua phố và ai cũng tỏ vẻ nghi ngờ.
Tuy nhiên, các người yêu nước tại tỉnh lỵ luôn luôn ít quan ngại  người nước ngoài đi ngang qua hơn là đối với những cư dân địa phương đã có những cử chỉ chứng tỏ sự đối nghịch đối với Cách Mạng.  Khắp cả nước, các đội ngũ chức sắc và vệ binh quốc gia đổ xô đi khám xét những lâu đài và các cơ sở tôn giáo của những giáo sĩ từ chối tuyên thệ gần đó. Họ tìm kiếm các bằng chứng về những cuộc hội họp bí mật phản Cách Mạng. Họ cũng sẵn cơ hội để săn lùng vũ khí đạn dược có thể sẽ được xử dụng chống phá Cách Mạng, đồng thời chính họ cũng đang cần đến chúng.
Đây là lần đầu tại các thị trấn vùng miền mà từ ngữ “tình nghi” được xử dụng rộng rãi trong ngữ vựng hành pháp. Nhưng điều gì gây nên sự bất tín nhiệm, điều gì chứng tỏ sự “có ý định đáng nghi ngờ”, như các viên chức tại Montpellier xử dụng, thường rất mơ hồ. Trong nhiều trường hợp, sự nghi ngờ dường như chỉ phát xuất từ lời phát biểu riêng biệt nào đó của các cá nhân, hoặc là trong quá khứ hoặc ngay sau vụ Varennes, những lời lẽ mà trong tư tưởng của hàng xóm của họ phân loại họ như những công dân có những hành vi phản Cách Mạng nổi bật. Một phụ nữ tại Meaux đã bị giam giữ vì sự bộc phát một hành vi quý tộc trong một bữa ăn tối với bạn bè nhiều tháng trước đó. Một linh mục gần Verdun bị bắt vì đã diễn đạt trước công chúng rằng nếu nhà vua đã thoát đi được có lẽ tai hoạ đã không xảy ra, những ngôn từ được trích dẫn ra khỏi nguyên bối cảnh của nó, theo ý nghĩa “tình nghi” trong sự thẩm vấn. Hai giáo sĩ “ngoan cố” xém bị đám đông phẫn nộ treo cổ tại Vendôme vì dám sỉ nhục một giáo sĩ ủng hộ Cách Mạng. Tiếc là các viên chức hành pháp đã không thể cứu nổi một tay quý tộc tại Brest từ việc công chúng trả thù vì sự nhạo báng của ông ta về một buổi lễ Cách Mạng khi ông vẽ lên tường một quán rượu hình vẽ  thô tục. Không lâu sau tin tức nhà vua biến mất khỏi Paris, tay quý tộc đã bị cắt cổ, và đầu ông bị cắm trên một cái cọc đi  bêu riếu trong thành phố.
Ở nơi khác, các cá nhân bị coi là đáng nghi ngờ vì họ có những liên kết nổi bật với đám di dân, hay chính họ tỏ ước muốn rời bỏ nước Pháp. Ở trên chúng ta đã thấy tình trạng phân vân đáng buồn của ông Petit khi việc liên quan của ông với một di dân bị can thiệp. Một anh bạn trẻ tên Boubert bị theo dõi và bắt giữ sau khi hỏi mượn tiền một người thân để chi trả cho việc di cư của anh. Nhưng rõ ràng thường gặp hơn là những sự lo sợ bởi  những cuộc tập trung gặp gỡ bí mật của các nhà quý tộc nổi danh và đám giáo sĩ tại các lâu đài địa phương. Báo cáo về những buổi họp kín của quý tộc và bọn giáo sĩ ngoan cố tại Saint-Denis ngay phía Bắc Paris hối thúc các giới chức quận lỵ đến lục soát nhà một quý tộc ngay lúc 2 giờ sáng, Tay quý tộc tuyên bố rằng khách của ông chỉ đến ăn mừng lễ Hiện Xuống, và quả thực, sự điều tra cho thấy chẳng có vũ khí hay khách lạ bí mật nào. Một cuộc lục soát tương tự tại một lâu đài gần Chaumont-en-Vexin nơi gia đình một quý tộc đang chơi đánh bài Whist rất ngạc nhiên, với kết quả tìm thấy 9 cây súng săn loại cổ và một ngọn giáo vật kỷ niệm của trận chiến Fontenoy. Tất cả đều bị tịch thu vào kho vũ khí của quốc gia.
Trong một số trường hợp, những tấn công cá nhân các quý tộc dường như  gây nên bởi những hận thù  hiềm khích rất lâu trước Cách Mạng. Nhân dịp vụ Varennes xảy đến,  vệ binh từ nhiều làng mạc ở gần Reims đã tụ tập tại lâu đài của hầu tước d’Ambly, một đại biểu của HĐCMQG. Tìm thấy vài khẩu súng, họ ép buộc bà vợ của ông hầu tước cho họ tiền mua súng ống và bỏ đi với sự kinh hoàng của đứa cháu trai, người mà họ coi như vật bảo chứng. Trong trường hợp này, đám vệ binh dường như lựa chọn d’Ambly một phần vì nhà quý tộc nổi danh như một thành phần phản kháng đối với HĐCMQG, phần khác cũng vì mối hận thù  về các đặc quyền phong kiến mà chúng đã làm cho dân làng chống cự lại lãnh chúa đất của họ trong khoảng 25 năm. Cuộc tấn công vào Guillet du Montet, lãnh chúa Poleymieux  ở miền quê gần Lyon còn dữ dội hơn.  Trước năm 1792, Guillet đã bị thù ghét vì những cách đối xử tàn bạo của ông đối với nông dân và sự từ chối tham gia Cách Mạng. Không lâu sau vụ Varennes, cả trăm cư dân đã kéo tới chiếm giữ kho vũ khí lớn  mà ông tàng trữ trong lâu đài của ông. Khi Guillet chống lại, một trận chiến xảy ra và chỉ kết thúc sau khi lâu đài bị xâm chiếm và ông ta bị giết. Thân thể bị xé từng mảnh ném vào toà lâu đài đang bị đốt cháy. Những biến cố tại Poleymieux được rộng rãi loan tải không lâu sau đó gây kinh hoàng cho cả nước. Tuy vậy, những bạo động cực độ như vật khá hiếm hoi trong cuộc khủng hoảng.  Sau vụ việc nhà vua chạy trốn, chỉ có 4 cá nhân bị sát hại, cả 4 là nhà quý tộc và có ít nhất 3 trong số họ đã bị thù ghét vì đủ thứ bất mãn có từ rất lâu.
Trong hầu hết, sự việc trấn áp do các lãnh đạo địa phương và vệ binh thực thi thường đi theo quy trình tuỳ từng trường hợp, nhắm vào các cá nhân bị tình nghi chuyên biệt. Nhưng trong một số trường hợp, vì lo ngại có những âm mưu thực sự hay phải chìu theo áp lực quần chúng, các giới chức thẩm quyền đã ra lệnh lục soát và bắt giữ không cần xét xử cả một loạt thành phần xã hội nào đó. Ở đây, đối tượng bị tình nghi không nổi lên từ một hành vi của một cá nhân đặc biệt nào được cho là vi phạm, nhưng chỉ từ sự kiện là họ đã thuộc về một nhóm xã hội hay chính trị đặc biệt. Những lý lẽ như vậy có lẽ rất rộng rãi trong đủ các thành phần của thường dân. Tại Varennes, vào cao điểm của cơn hoảng loạn về hiểm hoạ xâm lược, một đám nông dân và vệ binh đã bắt giữ một trong những viên sĩ quan chỉ huy kỵ binh, tuy người này đã cố gắng cộng tác với các nhà ái quốc. “Hắn là một sĩ quan, một tay quý tộc. Vậy hắn phải là một tên phản quốc!” Họ la hét với một lý luận sắc lạnh như băng, sau đói giảm nhẹ tội lỗi xuống thành tội dám mặc quân phục sĩ quan hoàng gia.
Những hành động của các công chức phân loại tình nghi  kiểu này còn nhiều ý nghĩa hơn. Những mục tiêu rõ ràng nhất của hình thức tố cáo chung này là hàng giáo sĩ  “bướng bỉnh” từ chối tuyên thệ trung thành với Hiến Pháp. Trong những vùng miền phải đấu tranh với số lượng lớn các giáo sĩ ngoan cố này, các nhà ái quốc địa phương thường vô cùng mất kiên nhẫn với những nghị quyết của HĐCMQG về quyền tự do tôn giáo và sự dung thứ cho đám “ngoan cố” nhưng không có ý gây rối này. “Nhưng khi từ chối không tuyên thệ trung thành không phải là một sỉ nhục đối với Hiến Pháp và là một đe doạ cho đất nước sao?”  Các tay theo chủ nghĩa tự do có thể thúc đẩy cho quyền tự do phát biểu, như cư dân của một thị trấn nhỏ tranh cãi: “Nhưng laỵ Chúa, loại ý kiến nào là chủ nghĩa cuồng tín mà nó chỉ mang đến viễn ảnh của giết chóc, làng mạc bị đốt cháy, đất nước bị tàn phá!” Tại vài khu vực, sự đàn áp các giáo sĩ cố chấp quả thực là khốc liệt, không giống như bất cứ gì được theo đuổi trước đó trong cuộc Cách Mạng.  Ngay khi nghe được tin nhà vua trốn chạy, các viên chức của thành phố Nantes đã ra lệnh  tức khắc trục xuất các giáo sĩ ngoan cố trong vùng và bắt giữ bất cứ vị linh mục nào có hoạt động phản Cách Mạng. Vài lãnh đạo các quận lỵ tại Normandy và Brittany cũng làm tương tự, họ biện luận rằng bọn giáo sĩ đó đe doạ tới một sự trở lại các cuộc chiến tranh tôn giáo và rằng, tất cả bọn ngoan cố đều là kẻ thù của Quốc Gia, không có ngoại lệ.  Trong một thời gian ngắn, những biện pháp tương tự được thi thành, bắt giữ và trục xuất sai luật pháp hàng trăm linh mục  mà không xét xử, tổng cộng có tới ít nhất 9 khu vực tỉnh thành trong cả nước.
Mục tiêu thứ hai của sự đàn áp tràn lan này là giới quý tộc.  Tại các tỉnh Cher và Indre thuộc trung tâm nước Pháp, các giáo sĩ ngoan cố tương đối ít và thường không bị coi là nguy hiểm, nhưng khi tin về vụ Varennes đến đã gây nên  nỗi lo sợ  rằng những nhà quý tộc trong vùng đang tổ chức  một cuộc tấn công phản Cách mạng. Nhiều quận lỵ đã gửi vệ binh tới tước vũ khí tại các lâu đài. Thị trấn Bourges còn đi xa hơn nữa, ra lệnh cho tất cả  cư dân là quý tộc phải ở nguyên tại thị trấn và cho vệ binh canh gác mọi cổng thành để bảo đảm không ai lọt ra ngoài, như thế sẽ ngăn chận hành động liên kết của những người đã công khai bày tỏ các nguyên tắc của họ ngược lại với ý nguyện chung.  Hầu hết, những chính sách này được thực thi một cách hòa bình với vệ binh được chỉ thị một cách chuyên biệt để hành động mang phong cách lịch sự và có lý lẽ mà không có bạo động.
Tuy nhiên, không có nơi nào mà sự đàn áp tập thể các nhà quý tộc dữ dội hơn vùng Brittany. Ở đây, các viên chức không chỉ phiền toái với số lượng giáo sĩ ngoan cố lớn nhất trong cả nước, mà những mối căng thẳng lâu năm giữa qúy tộc và thường dân đã rất trầm trọng bởi nền chính trị khu vực ngay trước những ngày đầu của Cách Mạng. Sau cuộc trốn chạy của nhà vua và được các giới chức địa phương khuyến khích, vệ binh Quốc Gia Breton từ nhiều thị trấn phóng ra một cuộc khủng bố kinh hoàng tại vùng quê, quấy nhiễu những quý tộc và giáo sĩ bị tình nghi, lục soát tìm vũ khí và đôi khi phá hủy  các lâu đài. Trong một tỉnh thành, giới thẩm quyền đã buông lỏng cho tự do theo đuổi toàn thể hội viên của 2 nhóm bị tình nghi này. Họ viết: “Kẻ thù của chúng ta đang tạo nên một cuộc chống trả cuối cùng. Hận thù và sự cuồng tín sẽ gây nên rắc rối chưa từng có và sẽ không có gìới hạn nào về các biện pháp chúng ta có thể xử dụng để ngăn chận những nỗ lực của bọn chúng. Sau những mệnh lệnh trên, các vệ binh bắt đầu đột kích mọi dinh thự lãnh địa để loại trừ những phương tiện mà kẻ thù của Hiến Pháp có thể xử dụng để lật đổ Quốc Gia. Các lãnh đạo của các tỉnh lân cận còn đi xa hơn và ra lệnh chiếm giữ tài sản của giới quý tộc đã bỏ đi ra nước ngoài. Kể từ khi nghị quyết ngày 21 tháng Sáu của HĐCMQG ngăn cấm mang tiền bạc hay kim loại quý ra khỏi biên giới, dường như hợp pháp để tịch thu những nguồn lợi tức của đám quý tộc vắng mặt, những lợi tức mà có thể được chuyển ra nước ngoài để hỗ trợ những kế hoạch phản Cách Mạng chống lại đất nước.
Với việc các nhà lãnh đạo khuyến khích việc trấn áp và căng thẳng dâng cao tới mức độ bùng nổ vì sự hoảng hốt bị xâm lăng, Brittany có lẽ là nơi có nhiều vụ bạo hành một cách đặc biệt.Tại vùng phía Đông của Rennes, tin tức về vụ Varennes đã làm họ gửi khoảng ba  tới bốn ngàn dân quân tới những làng mạc để săn lùng các giáo sĩ ngoan cố. Bực bội vì không tìm thấy một tay quý tộc đặc biệt, người đã hỗ trợ các giáo sĩ bất đồng chính kiến, vệ binh đã đốt cháy lâu đài của ông và không lâu sau đó, nhiều lâu đài trong vùng cũng bốc cháy. Cũng với tin nhà vua chạy trốn, một phân đội vệ binh tới cả trăm người được phái tới lâu đài của Le Préclos gần Vannes, nơi có một nhóm quý tộc bị tình nghi nghe nói đang tập trung. Họ tới đó lúc 4 giờ sáng, đánh thức cư dân với trống đánh vang và tiếng súng nổ, đám dân quân yêu nước bắt  lên xe chở đi 18 đàn ông với tay bị trói quặt ra sau và giam giữ họ trong đồn lũy như những “tù binh ”. Các nhà lãnh đạo ở La Roche-Derrien gần bờ biển Đông Bắc của Brittany cũng đi ra ngoài giải trừ vũ khí tất cả những kẻ hưởng đặc quyền ưu tiên trước đây trong vùng. Dường như không ai chống cự lại cho đến khi vệ binh tiến tới lâu đài Tralong nơi vị bá tước du Rumain nóng tính đã chào đón họ bằng những phát đạn từ một khẩu súng tầm ngắn thời thế kỷ XVII và một  cây súng bắn đá cổ xưa. Sau khi nhiều người dân bị thương và một đơn vị vệ binh nữa được gọi tới, họ đột kích vào lâu đài giết chết Du Rumain.
Khi cuộc khủng hoảng tháng Sáu qua tháng Bẩy giảm bớt cường độ và khi chính quyền trung ương tiếp nhận nhiều báo cáo hơn từ các vùng tỉnh, HĐCMQG bắt đầu phê bình chỉ trích các màn thô bạo nhất của chiến dịch trấn áp tập thể. Các viên chức tỉnh lỵ tại Quimpet có lẽ chịu áp lực từ Paris đã đưa quận lỵ Landerneau ra chịu trách nhiệm về việc bắt giữ tập thể giới quý tộc và giáo sĩ cứng đầu, những người mà tội ác của họ chỉ là bị tình nghi đã có những ý kiến phản Cách Mạng nhưng chưa bao giờ làm bất cứ gì cản trở trật tự chung. Những hoạt động như vừa kể không những chỉ vi phạm pháp luật và quyền con người, mà điều đó còn làm tình trạng  thêm bất ổn: “Khuấy động thêm rắc rối, gây hoảng sợ cho cá nhân và đe doạ tài sản của họ, tất cả đáng khiển trách vì nó làm tổn thương đến tinh thần tự do và các nguyên tắc của bản Hiến Pháp.” Nhưng quận lỵ Landerneau nhất quyết biện hộ cho các hành động của họ. Trường hợp của cuộc khủng hoảng và mục tiêu căn bản của việc cứu nguy Hiến Pháp đã biện hộ cho tất cả mọi biện pháp mà họ đã xử dụng. Họ tuyên bố: “Máu rồi sẽ phải đổ thôi! Chúng tôi chỉ có một chọn lựa, đó là bắt giữ kẻ thù trước khi bọn chúng phạm tội ác và giết người. Đám giáo sĩ cứng đầu và quý tộc thì đơn giản quá nguy hiểm mà tin chúng, ngay cả đối với những kẻ núp đằng sau cái mặt nạ đạo đức giả ái quốc.” Cuối cùng, các viên chức Landerneau không chịu hối lỗi: “Trong sự phân tách những người có thể gây rắc rối và bất ổn, chúng tôi phục vụ cả hai thứ:  con người và Hiến Pháp. Chúng tôi nhất quyết tiêu diệt chúng và chúng tôi sẽ không ngừng theo đuổi chúng cho đến khi ngọn lửa thiêng đang bừng cháy trong trái tim chúng tôi thanh tẩy hết mọi ngõ ngách của đất nước Pháp này.”

Cuộc tranh luận giữa Landerneau và Quimpet biểu hiệu cho tình trạng phân vân khó xử mà người dân Pháp phải đương đầu khi đối diện với cuộc chạy trốn của nhà vua.  Ngay trong thế kỷ XX, trong những xã hội nơi văn hoá dân chủ tự do đã mọc rễ sâu đậm, các giai đoạn chiến tranh và sự đe doạ khủng bố cũng đã  tạo nên những tình trạng khó xử hợp pháp về những đòi hỏi cho sự trấn áp có thể ngăn chặn trước.  Đối với những người cả nam nữ đã từng sống duới chế độ toàn trị và những người chỉ vừa mới biết về ý nghĩa của công lý và các quyền công dân, các biến cố tháng Sáu 1791 đã phô trương ra những vấn đề vô cùng rắc rối. Các nhà Cách Mạng tự thấy chính họ buộc phải thương lượng một sự cân bằng tế nhị giữa nguyên tắc và phương tiện thực hành, giữa luật pháp và nhu cầu an toàn công cộng, giữa tự do cá nhân và phòng thủ cộng đồng, giữa việc duy trì quyền con người và việc bảo vệ tổ quốc. Trong những nỗ lực mò mẫm để đương đầu những tình trạng khó xử này, nhiều công dân của các tỉnh thành đã lao mình vào những lối hành cử trấn áp bên ngoài phạm vi luật  định, vi phạm luật hội họp, vi phạm việc tình nghi không chứng cớ, giam giữ người lâu dài quá kỳ hạn. Tất cả những điều này là điềm báo trước cho những chiến thuật của  một thời kỳ khủng bố.