Showing posts with label 1. Show all posts
Showing posts with label 1. Show all posts

Cuộc Cách Mạng Pháp 1789-1799

                                                             by Peter McPhee

Chương 1: Nước Pháp những năm 1780s


Đặc điểm quan trọng nhất của nước Pháp vào thế kỷ 18 là đây là một xã hội nông thôn.  Người dân Pháp sống tại các làng mạc thôn quê thuở đó đông gấp mười lần thời nay. Vào năm 1780, dân số Pháp ước chừng 28 triệu dân. Nếu chúng ta cho rằng một vùng có trên 2000 người sinh sống được gọi là một đô thị, thì trong thế lỷ 18, chỉ có  20% sinh sống tại các trung tâm đô thị. Đại đa số dân chúng sinh sống ở  trong số 38.000 các cộng đồng thôn quê hay các giáo xứ với cư dân trung bình chừng 600 người.  Dưới đây là một sơ lược về 2 ngôi làng trong số đó cho chúng ta thấy vài đặc tính của thế giới vùng nông thôn xa xôi.

Ngôi làng bé nhỏ Menucourt là một điển hình đó tại miền Vexin nằm về phía Bắc Paris. Ngôi làng nằm ở giữa  2 giòng sông Seine và sông Oise uốn khúc, cách thị trấn gần nhất Pontoise chừng vài cây số và cách Paris khoảng 35 cây theo đường chim bay. Đó là một ngôi làng rất nhỏ với khoảng 280 cư dân sống trong 70 hộ gia đình, mặc dù đã tăng lên từ 38 hộ vào năm 1711.  Người đứng đầu làng hay vị lãnh chúa là Jean Marie Chassepot de Beaumont, vào năm 1789 đã 76 tuổi. Năm 1785, ông ta thành công trong việc khẩn cầu nhà vua ban cho quyền được thiết lập giấy tờ đất đai hợp pháp để hệ thống hoá việc tăng cuờng thu góp  thuế địa tô phong kiến mà dân làng miễn cưỡng phải thừa nhận.  Trang trại trồng ngũ cốc của viên lãnh chúa này thống trị nền kinh tế của thôn làng, cũng như lâu đài của ông bá chủ các ngôi nhà ổ chuột của dân làng. Các cánh đồng cày cấy chiếm 58% trên 352 mẫu đất của làng với rừng cây chiếm 26%. Một số cư dân có trồng nho hay làm nghề đốn gỗ lấy từ những cây dẻ ở phía Nam ngôi làng để chế biến thành các thùng gỗ đựng rượu và cây cọc. Một số khác khai thác đá để xây nhà cho các đô thị Rouen và Paris. Cái hoạt động mang tính thị trường này còn có được phụ thêm vào sự tồn tại của kinh tế với những mảnh vườn nhỏ trồng rau củ và trái cây như hồ đào, cam, táo,lê, mận, xê ri, đi hái nấm và hạt dẻ trong rừng và sản xuất thịt và sữa từ 200 con cừu và khoảng  năm sáu chục con bò. Cũng như hầu hết các làng mạc khắp nơi trên nước Pháp, dân cư thường làm nhiều ngành nghề cùng một lúc: chẳng hạn như Pierre Huard vừa mở quán trọ vừa bán sỉ rượu vang, và ông ta cũng là người thợ xây trong làng.

Trong khi đó, ngôi làng Gabian ở 20 kms phía Bắc Béziers gần bờ biển Languedoc vùng Địa Trung Hải lại có sinh hoạt rất khác biệt.  Đa số cư dân Gabian không thể tiếp xúc với những thần dân đồng hương của họ tại Menucourt vì hầu hết cư dân Languedoc nói ngôn ngữ Occitan trong sinh hoạt thường ngày. Gabian là một ngôi làng quan trọng với sự cung cấp liên tục nước suối và kể từ năm 988, lãnh chúa của họ là vị giám mục cai quản vùng Béziers. Mỗi năm thuế  địa tô  phải đóng góp cho vị lãnh chúa giám mục này là 100 sét tê lúa mạch (một sét tê chứa khoảng 85 lít), 28 thùng sét tê lúa mì, 880 chai dầu ô liu, 18 con gà,  4 cân Anh sáp ong, 4 chim đa đa, và một con thỏ. Nhắc lại vai trò cổ xưa của Gabian như một thị trường nằm giữa miền núi và miền biển, do đó làng cũng phải trả thêm  1 cân tiêu, 2 ounce hạt nhục đậu khấu ( một ounce chừng  28 gram) và 2 ounce đinh hương. 2 vị lãnh chúa khác cũng có chút đòi hỏi qua sản phẩm của họ. Cũng như Menucourt, Gabian mang tính chất đa dạng của một nền kinh tế đa văn hoá, khoảng 770 cư dân trong làng sản xuất hầu hết những nhu cầu của họ trên 1540 mẫu đất của làng. Trong khi Menucourt nối kết với những thị trường rộng lớn hơn qua kỹ nghệ gỗ và và đá xây nhà, nền kinh tế tiền mặt của Gabian đặt căn bản trên những mảnh vườn nho và len vải từ đàn cừu 1000 con gặm cỏ trên những sườn đồi sỏi đá bao quanh làng. Một số người dệt len cừu làm việc cho đám thương buôn đến từ thành phố vải sợi Bédarieux ờ phía Bắc.

Đã từ lâu vương triều có ý áp đặt một sự thống nhất về ngôn ngữ lên những làng như Gabian bằng cách yêu cầu các linh mục và luật gia dùng ngôn ngữ Pháp. Tuy nhiên, hầu hết các thần dân của nhà vua không dùng tiếng Pháp trong sinh hoạt thường ngày. Quả thực, có thể nói rằng ngôn  ngữ mà hầu hết người Pháp thường nghe là tiếng La Tinh vào những sáng Chúa Nhật. Trên khắp nước, tiếng Pháp chỉ được xử dụng thường ngày với những người làm việc trong ngành quản trị, thương mại và các nghề chuyên nghiệp. Thành viên của hàng giáo sĩ cũng xử dụng tiếng Pháp, mặc dù họ vẫn thuyết giảng bằng ngôn ngữ địa phương. Hàng triệu cư dân Languedoc nói đủ loại thổ ngữ Occitants: tiếng Flemish được nói ờ vùng Đông Bắc; Tiếng Đức ở vùng Lorraine. Lại có những dân tộc thiểu số vùng Basques, Catalans và Celts. Những người nói tiếng điạ phương này lại khác biệt nhau trong từng vùng miền. Ngay tại khu Ile-de-France nằm quanh Paris đã có những khác biệt nho nhỏ trong tiếng Pháp được nói từ khu này qua khu kia. Khi Abbé Albert từ vùng Alps phía Nam đi qua vùng Auvergne, ông ta khám phá rằng:

“Tôi chẳng hiểu người dân quê ở đây nói gì khi gặp họ trên đường. Tôi nói với họ bằng tiếng Pháp, rồi tiếng địa phương của tôi. Tôi cũng thử xài tiếng La Tinh nhưng hoàn toàn vô hiệu. Cuối cùng khi tôi đầu hàng chẳng biết làm sao cho họ hiểu tôi lấy một chữ; đối lại, họ cũng nói với tôi một ngôn ngữ mà tôi cũng mù tịt.”

Có hai đặc tính quan trọng nhất mà người dân nước Pháp ở thế kỷ 18 có chung là họ đều là thần dân của nhà vua và 97% dân số là người Công Giáo. Nước Pháp vào thập niên 1780s là một xã hội với ý nghĩa sâu đậm nhất về bản sắc của người dân gắn liền với vùng miền họ sinh sống. Các nền văn hoá vùng miền và các thổ ngữ được đặt căn bản với những chiến lược kinh tế tìm kiếm sự thoả mãn nhu cầu của các hộ dân trong phạm vi thị trường vùng miền địa phương hay chỉ trong làng xóm. Do đó, nền kinh tế thôn quê thiết yếu là một nền kinh tế nông nghiệp, đó là sự sản xuất nông phẩm đặt căn  bản trên  gia đình có chiều hướng lấy sự sống còn làm tiên quyết. Cái hệ thống đa văn hoá phức tạp này cố gắng sản xuất ra những nhu cầu tiêu thụ thiết yếu nhất có thể tự túc được của một hộ gia đình, bao gồm cả trang phục.

Nicolas Resif de la Bretone, sinh năm 1734 tại làng Sacy ở ranh giới giữa 2 vùng Burgundy và Champagne đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc về cái thế giới thôn dã này. Restif đã di chuyển đến Paris và trở nên nổi tiếng với những chuyện dung tục trong tác phẩm Le Paysan Perverti năm 1775 (Tên nông dân đồi bại), được viết từ những hồi ức của ông tại Sacy trong cuốn ‘Cuộc Sống của Cha Tôi 1779 (La vie de mon père)’. Ông ta nhắc đến cuộc hôn nhân xứng đôi và hạnh phúc của  Marguerite người thân của ông đã sống chung với  Covin, một người kể chuyện địa phương, tiếu lâm, cường tráng, một kẻ chân quê hão huyền:

Marguerite có mảnh đất trồng trọt trị giá khoảng 120 livres và Covin có một mảnh khác giá 600 livres, một khu đất trồng trọt được, một khu là vườn nho, và một số khu nằm rải rác trên đồng cỏ. Mỗi loại có sáu phần: sáu phần lúa mì, sáu phần lúa mạch và sáu phần bỏ hoang. Về phần người vợ, bà có lợi tức từ việc quay tơ, lông lấy từ đàn cừu 7 hay 8 con, trứng từ hơn chục gà mái, sữa từ bò với bơ và phó mát làm ra từ sữa. Covin cũng là người thợ dệt vải và vợ ông làm công việc nhà. Kết quả là bà có vẻ khá hài lòng.”

Người dân phố thị thường bóng gió dân vùng sâu vùng xa như ‘bọn nhà quê’. Tuy nhiên  thành ngữ đơn giản này che đậy hết những phức tạp của một xã hội thôn quê nơi mà hành vi đa dạng của con người thôn dã được  phát giác  trong cuộc Cách Mạng. Có tới  một nửa dân số sống trong những khu vực nông nghiệp rộng lớn như Ile-the-France ở quanh Paris là người làm thuê cho các nông trại. Tuy nhiên tại hầu hết các vùng miền, đa số dân chúng là những người sở hữu đất nhỏ bé, những trại chủ  thuê đất hay những người làm khoán chia lợi tức, nhiều người trong số họ còn phụ thuộc vào nghề thủ công hay những công việc được trả lương. Trong mọi cộng đồng thôn dã, thường là có một số ít các đại trang chủ, thường được gọi là những trưởng lão của làng, họ là những chủ đất hay trại chủ thuê đất canh tác. Những làng mạc to lớn hơn cũng có một số nhỏ là các linh mục, luật gia, thợ thủ công và các công nhân ngành vải sợi. Họ chẳng phải là nông dân nhưng  thường sỡ hữu chút ít đất đai, chẳng hạn như các linh mục có những mảnh vườn trồng rau. Giới nông dân chiếm tới bốn phần năm tầng lớp thứ Ba (hay còn gọi là tầng lớp thường dân), nhưng họ chỉ làm chủ hoàn toàn khoảng 40% đất đai trong cả nước. Tỷ lệ này thay đổi từ 17% trên vùng Mauges ở miền Tây nước Pháp tới 64% trong vùng Auvergne.

Dường như có vẻ nghịch lý, nhưng vùng thôn dã Pháp cũng là trung tâm của hầu hết các ngành chế tạo. Đặc biệt kỹ nghệ vải sợi đa phần đặt nền tảng trên công việc bán thời của phụ nữ trong những khu vực thôn quê của vùng Normandy, Velay và Picardy. Kỹ nghệ thôn quê thuộc loại này nối kết với những ngành nghề chuyên môn tập trung tại các đô thị trong vùng, thí dụ ngành làm bao tay da cừu tại Millau, làm ríp bông tại St-Étienne, ngành làm ren tại Le Puy và ngành dệt lụa tại Lyons. Một nghiên cứu trước đây của Liana Vardi về kỹ nghệ thôn quê chú trọng đến Montigny, một cộng đồng chừng 600 cư dân vào những năm 1780s thuộc miền Bắc Cambrésis, chỉ mới trực thuộc nước Pháp kể từ 1677. Vào đầu thế kỷ 18, số những chủ đất và người thuê đất chỉ có khoảng một phần ba con số trên. Trong suốt thế kỷ ấy, các chủ đất và trại chủ thuê đất đã độc quyền đất đai và tăng gia chuyên nghiệp vào ngành sản xuất bắp. Ngược lại, những nông dân trung lưu và nhỏ đã tìm được ngành quay tơ dệt vải để chống chỏi lại sự nghèo khổ và thiếu thốn đất đai. Một nền kỹ nghệ nông thôn phát triển nhưng rất mỏng manh tại Montigny đặt căn bản trong việc các lái buôn đặt hàng cho việc quay tơ dệt vải tới các hộ nông gia. Đối lại, kỹ nghệ sợi vải cung cấp một sự khuyến khích cho các trại chủ gia tăng năng xuất mùa màng đáng kể để nuôi sống dân số trên đà gia tăng. Những người vừa là thương nhân vừa dệt vải trung lưu đã giữ một vai trò thiết yếu ở những vùng như Montigny khi họ cầm cố tài sản nhỏ nhoi của gia đình để tham gia vào cuộc chạy đua làm giàu nhanh chóng. Những người này duy trì bản sắc dân quê trong sự nối kết giữa những chiến lược kinh tế cùng lúc với việc họ tỏ ra một năng khiếu và nhiệt tâm về doanh nghiệp rất đáng chú ý.

Tuy nhiên, Montigny là một trường hợp ngoại lệ. Hầu hết vùng quê nước Pháp là nơi vẫn tiếp tục lao động chân tay trong việc cày bừa trên mặt đất. Một thế giới nông thôn nơi các hộ gia đình tham gia vào một chiến thuật ngành nghề rất phức tạp để bảo đảm sự sống còn của chính họ thường không tránh khỏi gặt hái những năng xuất thấp vì mùa màng cày cấy trên những mảnh đất khô cằn  hay quá tải. Những mảnh đất khô cằn đầy sỏi đá ở phía Nam như làng Gabian đã không còn thích hợp cho mùa màng hơn vùng đất nặng nề ẩm thấp của Normandy. Tuy nhiên, ở cả hai vùng, phần lớn đất trồng trọt được đã được dành riêng ra trồng ngũ cốc cho nhu cầu địa phương. Kết quả là hầu hết các cộng đồng thôn quê hạn  chế số sản phẩm thặng dư dành cho thị trường các đô thị trọng yếu. Quan trọng hơn đối với nông dân là những thị trấn nhỏ ở gần nơi các hội chợ phiên tổ chức hàng tuần, hàng tháng hay hàng năm cũng  vừa là cơ hội cho những lễ hội tập thể của văn hoá  địa phương cũng như để trao đổi sản phẩm.

Các cộng đồng thôn quê đã tiêu thụ  phần lớn các sản phẩm chính họ tạo ra, và ngược lại, các thị trấn và đô thị đối mặt với vấn đề cung cấp thực phẩm một cách triền miên và một đòi hỏi hạn chế của dân quê về hàng hoá và dịch vụ của họ. Tuy nhiên, mặc dù chỉ có 20% dân số Pháp sống trong các cộng đồng phố thị, Pháp lại được coi là có số lượng và kích thước các thành phố  và thị trấn đáng kể trong bối cảnh Âu châu đương thời. Đã có 8 thành phố có dân số trên 50,000 người mà Paris là thành phố lớn nhất với chừng 700,000 dân, rồi tới Lyons, Marseilles, Bordeaux, Nantes, Lille, Rouen và Toulouse, khoảng 70 thị trấn có từ 10,000 đến 40,000 cư dân. Những thành phố, thị xã này đều có những khuôn mẫu về các ngành chế tạo sản xuất quy mô rộng lớn có liên hệ đến mạng lưới thương mại quốc tế, nhưng hầu hết vẫn chịu sự bá chủ bởi các ngành nghề thủ công nghệ  cho chính những nhu cầu của  cư dân trong thành phố và các vùng nội địa lân cận và qua một loạt các nhiệm vụ về quản trị hành chánh, tư pháp, giáo phận và chính sách. Đó cũng là những thủ phủ của từng khu vực. Tỷ lệ dân số chỉ có 1 trên 40 người sống tại Paris và sự thông tin liên lạc giữa hoàng cung Versailles và phần lãnh thổ còn lại của đất nước luôn luôn chậm  chạp và không chắc chắn. Kích thước và địa hình của đất nước là một chướng ngại vật thường xuyên cho việc di chuyển nhanh chóng các chỉ đạo, luật lệ và hàng hóa. Tuy nhiên, những cải thiện về đường xá sau năm 1750  đã cho phép không thành phố nào của nước Pháp  cách xa  thủ đô phải  giao tiếp tới hơn 15 ngày đường. Các cỗ xe ngựa di hành với tốc độ 90 cây số một ngày đã có thể đưa khách du hành đi từ Paris tới Lyons, một thành phố lớn thứ nhì của Pháp với hơn 145,000 cư dân trong vòng 5 ngày.

Giống như nhiều thành phố khác, Paris được bao quanh bởi một bức tường thành, phần lớn là để tận thu thuế hàng hoá nhập vào thành phố. Bên trong những bức tường là các khu ngoại ô mà mỗi khu có sự hỗn hợp khác biệt về nhóm người di dân và đủ loại giao dịch thương mại. Paris điển hình cho những thành phố lớn của Pháp với cấu tạo ngành nghề  riêng của nó. Thành phố vẫn do ngành sản xuất thủ công nghệ và dân có tay nghề thống trị, mặc dù đã có sự xuất hiện của một số các ngành đại công nghiệp. Một số các đại công nghiệp quan trọng nhất thuộc khu ngoại ô St-Antoine nơi xưởng sản xuất giấy dán tường Réveillon thuê mướn tới 350 công nhân và nhà máy rượu bia Santerre với 800 công nhân.  Trong khu vực hàng xóm lân cận phía Tây thành phố, ngành kỹ nghệ xây cất phát triển mạnh với luật lệ xây dựng tốt buộc các cư dân phải di rời khỏi những khu xóm ổ chuột thời Trung cổ ở trung tâm thành phố. Tuy nhiên, hầu hết dân Paris tiếp tục sống trong những khu  đường hẻm ngõ cụt tại các vùng lân cận bên bờ sông, nơi dân số bị chia cắt riêng ra chen chúc trong những chung cư cho thuê chật chội, và là nơi những nhà tư sản giàu có và cả những nhà quý tộc chiếm hữu tầng trệt và lầu một để mở cửa hàng và văn phòng làm việc. Những người khác như gia nhân, thợ thủ công và người nghèo cư ngụ ở các tầng trên và gác xép. Trong các cộng đồng thôn quê, Giáo hội Công Giáo cũng hiện diện liên lỷ. Có chừng 140 tu viện nam nữ tại Paris là nơi sinh sống của 1000 nam tu sĩ và 2500 nữ tu và chừng 1200 linh mục quản giáo xứ. Giáo hội sở hữu một phần tư tài sản của thành phố.

Paris cũng được bá chủ bởi các tiệm buôn bán lẻ và hãng xưởng dịch vụ nhỏ bé: Hàng ngàn các tiểu thương thuê mướn chừng 3 hay 4 công nhân. Trong giao dịch có tay nghề cao, các chủ nhân kiểm soát sự gia nhập của những thợ lưu động, những người thường đạt tiêu chuẩn qua việc  trình bày những thành(sản) phẩm của họ trong chuyến lưu hành quanh nước Pháp qua việc chuyên môn hoá nghề nghiệp tại những trung tâm các phố thị vùng miền. Đây là một thế giới trong đó các tiểu chủ nhân và các công nhân có tay nghề ràng buộc với nhau qua sự hiểu biết sâu rộng nghề nghiệp của họ và về sự hiểu biết nhau và cũng là nơi các công nhân có tay nghề được khám phá ra  từ nghề nghiệp của họ cũng như qua việc họ là chủ hay là thợ. Người đương thời thường coi dân lao động Paris như những “thường dân”, có nghĩa họ không thuộc về giai cấp công nhân. Tuy nhiên những đối kháng giữa công nhân và giới chủ nhân thật rõ rệt trong các ngành nghề nơi thật khó khăn để trở thành địa vị chủ nhân. Trong một số kỹ nghệ như ngành in ấn chẳng hạn, việc xử dụng máy móc mới đã ảnh hưởng đến tài nghệ của đám thợ lưu động và những người học nghề. Trong năm 1776, thợ lãnh lương có tay nghề đã vui mừng ở viễn ảnh huỷ bỏ các nghiệp đoàn và cơ hội thiết lập cơ xưởng riêng của họ, nhưng rồi dự án đã bị xếp xó. Sau đó năm 1781, một hệ thống “sổ sách cho công nhân” được giới thiệu cho các tay chủ nhân thêm sức mạnh để đối phó với các công nhân ngang bướng.

Quan hệ xã hội cũng chú trọng đến tình hàng xóm và bạn đồng sở như tình gia đình. Những thành phố lớn như Paris, Lyons và Marseilles mang sắc thái của những trung tâm đông đúc chật chội và có tính cách thời Trung Cổ nơi hầu hết các gia đình chỉ cư ngụ trong một hay hai căn phòng, hầu hết những sinh hoạt thường ngày liên quan đến ăn uống và giải trí là những hoạt động chung. Các sử gia đã có những tài liệu về việc phụ nữ đã xử dụng đường phố và nhiều khoảng trống công cộng để giải quyết các tranh chấp riêng tư cũng như các vấn đề về giá cả thuê mướn và thực phẩm. Đàn ông trong các dịch vụ tay nghề cao tìm thấy tinh thần đoàn kết của họ trong  các hội thân hữu, không chính danh nhưng mang tính chất anh em lao động bao dung với mục đích bảo vệ các tập quán lao động và lương bổng, đồng thời cung cấp những nơi chỗ  để giải trí và sinh hoạt sau một ngày lao động 14 tới 16 giờ. Jacques-Lois Ménétra, một trong những công nhân trên sau này đã nhớ lại những ngày tháng học việc như một thợ làm kiếng vào trước cuộc Cách Mạng về một môi trường nổi loạn của các bạn đồng sự với sự thích thú  trong những trò đùa nghịch tục tĩu, dâm ô đến nghi thức hoá cả bạo lực với những hội đoàn anh em khác. Tuy nhiên, Ménétra cũng tuyên bố là đã có đọc các tác phẩm  ‘Contrat Social (khế ước xã hội) và Émile et la nouvelle Héloise’ của Rousseau và đã từng gặp gỡ tác giả.

Các thành phố thuộc vùng miền thường có những kỹ nghệ riêng biệt bá chủ, chẳng hạn như kỹ nghệ tại Rouen và Elbeuf. Những trung tâm phố thị mới và nhỏ hơn mọc lên quanh những xưởng đúc sắt thép và các mỏ than như tại Le Creusot, Niederbronn và Anzin, nơi có 4000 công nhân được thuê mướn. Tuy nhiên, đặc biệt tại những hải cảng vùng Đại Tây Dương nơi ngành mậu dịch thuộc địa phát triển mạnh mẽ với những thuộc địa vùng Caribbean  đang phát triển một khu vực kinh tế thuộc địa trong ngành đóng tàu và việc trao đổi hàng hoá thuộc địa, chẳng hạn như tại Bordeaux, nơi dân số tăng  từ 67,000 lên tới 110,000 cư dân trong khoảng 1750 đến 1790. Đây là một ngành mậu dịch ba chiều giữa Âu Châu, Bắc Mỹ và Phi Châu qua sự xuất cảng rượu các loại từ những cảng như Bordeaux qua Anh Quốc và nhập các sản phẩm thuộc địa như đường, cà phê và thuốc lá. Lại có một đường lối thương mại dính líu đến việc đóng tàu nhắm mục tiêu chuyên chở nô lệ mà chúng chuyển giao các chuyến tàu nô lệ từ bờ Tây của Phi Châu tới các thuộc địa khác như St-Domimique. Đã có tới 465,500 nô lệ làm việc trong nền kinh tế đồn điền do 31,000 ông chủ da trắng kiểm soát chiếu theo những quy định của Luật Đen ban hành 1685. Luật lệ áp đặt những quy định về việc đối xử đúng cách đối với những tài sản cùa các chủ nô lệ, trong khi chối bỏ bất cứ quyền lợi hợp pháp và quyền gia đình nào cho các nô lệ. Có nghĩa là con cái của các nô lệ cũng là tài sản riêng của chủ nô. Trong năm 1785 đã có 143 con tàu chủ động tham gia vào hoạt động buôn bán nô lệ: 48 tại Nantes, La Rochelle và Le Havre có mỗi nơi 37 tàu, 13  tại Bordeaux và số còn lại đến từ Marseilles, Malo và Dunkerque. Tại Nantes, ngành buôn bán nô lệ chiếm tới 20 đến 25% hoạt động của hải cảng trong những năm 1780s. Tại Bordeaux, 8 đến 15% và tại La Rochelle lên tới 58% trong năm 1786. Trong suốt thế kỷ kể từ 1707, những tàu nô lệ này đã thực hiện hơn 3,300 chuyến hải hành, 42% tronng số là từ Nantes: hoạt động của chúng chủ yếu là cho việc kinh tế nở rộ trong các hải cảng vùng Đại Tây Dương vào thế kỷ 18.

Tuy nhiên, hầu hết các gia đình thuộc thành phần trung lưu có được thanh thế và lợi tức của họ từ các hoạt động có tính truyền thống hơn như trong các ngành luật  hay các ngành chuyên môn khác, trong  hệ thống quản trị hoàng gia và từ những tài sản đem đầu tư. Có lẽ 15% tài sản thôn quê là do những tư sản này sở hữu. Trong khi giới quý tộc thống trị hầu hết những vị trí cao trọng nhất trong ngành quản trị, những vị trí thấp hơn được dành chỗ cho giai cấp trung lưu. Ngành quản trị hoàng gia tại hoàng cung Versailles rất nhỏ bé với chỉ có 670 công nhân, nhưng xuyên suốt qua mạng lưới các thành phố vùng miền khu vực, nó cần thuê mướn hàng ngàn người trong các tòa án, công sở và chính quyền. Đối với giới tư sản đã có những phương tiện đáng kể, không có đầu tư nào hấp dẫn và đáng tôn trọng hơn những trái phiếu của chinh phủ với lợi tức tuy thấp nhưng  thật an toàn hay sở hữu đất đai hoặc chức danh lãnh chúa. Đặc biệt cái chức danh này mang lại nhiều hy vọng để tiến thân xã hội và ngay cả có thể tiến vào giới quý tộc qua ngã hôn nhân. Đến thập niên 1780s có đến một phần năm các lãnh chúa ở vùng quê quanh Le Mans là những người xuất thân từ giới tư sản.


Nước Pháp thế kỷ 18 mang đặc tính những nối kết đa dạng giữa thành phố và thôn quê. Đặc biệt tại các thị trấn khu vực vùng miền quê, giới tư sản sở hữu tài sản miền quê của họ mà từ nơi đó họ cho các trang chủ nông dân thuê mướn. Đối lại, công việc làm dịch vụ trong nhà của các gia đình tư sản là nơi cung cấp công ăn việc làm cho các cô gái quê trẻ. Các cô gái kém may mắn hơn hành nghề điếm hay làm việc trong các cơ sở từ thiện. Một liên hệ giao kết khác giữa thành thị và thôn quê liên quan đến việc các phụ nữ có công ăn việc làm trong thành phố lớn như Lyons và Paris đã gửi các con nhỏ của họ về các khu vực đồng quê cho các dịch vụ chăm sóc trẻ nhỏ, thường trong nhiều năm. Các em bé sơ sinh có nhiều cơ hội sống sót hơn tại vùng quê, nhưng có tới một phần ba đã chết khi đang được chăm sóc ở đó (oái ăm thay, bà mẹ của người thợ lắp kiếng Jacques-Louis Ménétra đã chết khi ông ta được chăm sóc ở vùng quê). Một loại hình thức công việc khác bao gồm hàng ngàn đàn ông trai tráng ở những vùng cao nguyên đối diện một mùa khô hạn kéo dài trong mùa đông đã di chuyển đến các phố thị theo từng mùa hay nhiều khi trong nhiều năm để tìm việc làm. Bọn họ bỏ lại sau lưng một xã hội được mệnh danh là xã hội “vắng đàn ôngg” nơi phụ nữ có khuynh hướng chăn nuôi gia súc và sản xuất tơ sợi.

Tuy nhiên, cái nối kết quan trọng nhất giữa thành phố và thôn quê Pháp là việc cung cấp thực phẩm, đặc biệt là mễ cốc. Đây là một nối kết thường gây căng thẳng giữa sự tranh chấp tranh đua những nhu cầu của người tiêu thụ của cả dân phố thị lẫn dân thôn quê, Trong những lúc bình thường, dân thành phố sống bằng tiền lương chi tiêu từ 40 đến 60% lợi tức chỉ riêng cho khẩu phần bánh mì. Khi giá cả tăng lên trong những năm mất mùa, sự căng thẳng cũng tăng theo giữa dân thành thị phụ thuộc vào giá cả bánh mì và thành phần dân nghèo khổ trong cộng đồng thôn quê do sự hăm doạ của các con buôn địa phương tìm cách xuất ngũ cốc đi đến những thị trường khác có lợi nhuận cao. 22 năm trong khoảng từ 1765 đến 1689 đánh dấu giai đoạn khủng hoảng thực phẩm, khi thì ở tại thành phố ở những khu vực dân lao động nơi phụ nữ đặc biệt tìm cách áp đặt luật thuế phổ thông để giữ giá cả ở mức hạn định, khi thì tại thôn quê nơi nông dân tập họp lại với nhau để ngăn chặn những tiếp phẩm hiếm hoi bị gửi ra ngoài thị trường.  Tại nhiều khu vực, mối căng thẳng về việc cung cấp thực phẩm còn trầm trọng thêm qua sự nghi ngờ các thành phố lớn là kẻ ăn bám trên sức lao động thôn quê, do bởi các chức sắc trong giáo hội và trong giới quý tộc thu vén sự giàu có của họ từ vùng thôn quê và đem tiêu xài huyênh hoang tại các phố thị.  Tuy nhiên, trong suốt quá trình ấy, họ cũng tạo nên công ăn việc làm cho cư dân thành phố và có hứa hẹn giúp đỡ người nghèo.

Nước Pháp thế kỷ 18 là vùng đất đầy rẫy nghèo khổ với hầu hết mọi người lân cảnh túng quẫn khi mùa màng thất bát. Đây là điều giải thích cho cái mà các nhà viết sử gọi là: “sự cân bằng nhân khẩu”, khi xã hội có tỷ lệ sinh xuất cao (4.5%) đồng thời cũng gần tương xứng với tử xuất cao (3.5%). Nam nữ lấy nhau khá muộn: thường ở độ tuổi 26 – 29 cho nam và 24 – 27 cho nữ. Đặc biệt trong những khu vực mộ đạo nơi các cặp vợ chồng hiếm khi ngừa thai bằng phương pháp tự nhiên (cho xuất tinh ra ngoài), phụ nữ thường có thai gần như mỗi năm một lần. Tuy nhiên, hầu hết mọi nơi trong nước, gần một nửa trẻ em qua đời vì những căn bệnh trẻ em và do thiếu dinh dưỡng ở độ tuổi lên 5. Thí dụ tại Gabian, đã có 235 trẻ qua đời trong 1780s với 134 đứa dưới 5 tuổi. Trong khi độ tuổi già cũng không phải là không được biết, trong năm 1783 chỉ có 3 người thọ  tới 80 và 2 người thọ 90 tuổi được chôn cất. Đời sống trung bình của những người sống sót sau thời sơ sinh chỉ có 50 năm.

Sau 1750, nhiều năm liên tiếp đựợc mùa đã làm xáo trộn đến sự cân bằng nhân khẩu do dân số gia tăng nhanh từ khoảng 24.5 triệu lên tới 28 triệu vào 1780s. Tuy nhiên, yếu điểm của dân số gia tăng này không đơn thuần là một vận hành của sự đe doạ luôn luôn hiện hữu về mùa màng thất bát. Trên hết, chính cái dân số thôn quê đã bảo hiểm giá phải trả cho cái thế ba chân về quyền thế và đặc quyền của nước Pháp thế kỷ 18:  Giáo hội, quý tộc và vương triều. Cả ba thành phần này đã đòi hỏi đóng góp trung bình khoảng từ một phần ba tới một phần tư sản phẩm của giới nông dân qua thuế má, lệ phí và thu tô.

169,500 thành viên  thuộc giới giáo sĩ, tầng lớp số một của đất nước chỉ chiếm 0.6% dân số. Tầng lớp này lại  phân chia ra làm hai giữa 81,500 tu dòng bao gồm 26,500 thầy tu và 55,000 nữ tu theo phẩm trật tôn giáo và khoảng 59,500 tu triều bao gồm 39,000 limh mục quản xứ và 20, 500 phó xứ, những người cai quản các nhu cầu tâm linh của tầng lớp xã hội thế tục. Lại cũng có nhiều loại giáo sĩ thế tục khác. Trong lãnh vực xã hội, Giáo hội rất mực tôn ti trật tự. Những vị trí có lợi nhuận cao nhất như đầu não trật tự tôn giáo (thường được bỏ trống) và như các chức gám mục, tổng giám mục do giới quý tộc làm bá chủ: tổng giám mục của giáo phận Strasbourg có lợi tức thường niên 450,000 đồng livres. Mặc dù tiền lương của linh mục quản xứ và phó xứ đã gia tăng   trong năm 1776 (quản xứ  750 và phó xứ 300 livres một năm), lợi tức như vậy chỉ cho họ sống dễ dàng hơn  giáo hữu của họ chút ít.

Giáo hội có được tài sản  phần lớn từ  thu phí thập phân bắt buộc  đóng góp từ các mùa màng nông trại, luôn luôn trong khoảng 8 đến 10%, mang lại số lợi tức khoảng 150 triệu livres mỗi năm và từ những vùng đất mênh mông do các tu viện và giáo phận sở hữu. Phần này được chi trả như một phần lương bổng cho các linh mục bản xứ, bổ xung vào những lệ phí địa phương mà họ đã thu từ những dịch vụ đặc biệt như đám cưới đám tang. Nói chung, tầng lớp số một này sở hữu chừng 10% đất đai toàn nước Pháp, lên tới 40% ở vùng Cambrésis nơi thuế phí và tiền cho thuê đất thu góp được lên tới 130 triệu livres mỗi năm. Tại các phố thị thuộc vùng quê,  người ta thường gặp các tu sĩ nam nữ theo chế độ ‘mở’;  thí dụ, có tới 600 người trong số 12,000 cư dân tại Chartres là những người tu kiểu mở này. Tại nhiều thành phố ở các tỉnh vùng, Giáo Hội cũng là chủ sở hữu tài sản chính thức: thí dụ tại Angers, Giáo Hội sở hữu ba phần tư tài sản đô thị.  Tại đây cũng như nhiều nơi khác, đó là nguồn chính cung cấp các công việc làm ăn địa phương: nghề giúp việc nhà, thợ thủ công nghệ và các luật gia đáp ứng nhu cầu của 600 tu sĩ địa phương tronng một thành phố 34,000 cư dân: thư ký, thợ mộc, đầu bếp và  dọn dẹp vệ sinh phụ thuộc vào họ, cũng như các luật sư  làm việc trong 53 toà án của Giáo hội để nghiêm trị những người trốn tránh thuế má và tiền thuê mướn đất đai. Tu viện Bénédictine tại Ronceray làm chủ 5 dinh thự, 12 vựa ngũ cốc và máy ép nho, 6 nhà máy sản xuất, 46 nông trại và 6 khu nhà ở ờ khắp miền quê quanh Angers, thu vào lợi tức mỗi năm 27,000 livres cho thành phố.

Vào thập niên 1780s, nhiều tu viện nam đi vào tàn lụi:  vua Louis XV  đã đóng cửa 458 tu viện (với chỉ có 509 tu sĩ) trước khi ông băng hà năm 1774. Sự tuyển mộ tu sĩ cũng giảm thiểu  một phần trong hai thập niên sau năm 1770. Các tu viện nữ có vẻ hoạt động mạnh mẽ hơn, chẳng hạn như dòng Các Chị Em Nhân Ái tại Bayeux đã cung cấp thực phẩm và nơi cư trú cho hàng trăm phụ nữ nghèo khổ qua công việc sản xuất ren rộng rãi. Tuy nhiên trong cả nước Pháp, hàng giáo sĩ địa phương chính là trung tâm của cộng đồng, vừa là nguồn chỗ dựa tinh thần và sự cảm hứng, vừa là cố vấn khi cần thiết, vừa là người phân phát đồ từ thiện, lại vừa là chủ nhân và nguồn tin tức về thế giới bên ngoài. Trong những tháng mùa Đông, chính linh mục chánh xứ là người cung cấp những bước căn bản của giáo dục, mặc dù có lẽ có chừng một trong mười người nam và một trong 50 phụ nữ có thể đọc được Thánh Kinh. Tại những khu vực dân cư sống rải rác như những vùng của Massif Central hay miền Tây, chính buổi tham dự thánh lễ Chủ Nhật là nơi mà cư dân ở những nông trại xa xôi và các thôn xóm có cảm giác của một cộng đồng. Tại miền Tây,  việc giáo dân cùng giáo sĩ quyết định toàn bộ các vấn đề địa phương sau Thánh Lễ  có thể được diễn tả như một loại chính trị thần quyền nho nhỏ. Tuy nhiên, ngay cả nơi này, nền giáo dục vẫn chỉ có tầm quan trọng bên lề:  tại giáo xứ miền Tây Lucs-Vendée rất sùng đạo, chỉ có 21% chú rể có thể ký tên được vào tờ hôn thú và chỉ có 1.5% được coi là có chút chữ nghĩa. Hầu hết cư dân Paris ít ra có thể biết đọc, nhưng dân miền quê thì thực sự là một xã hội chỉ biết nói.

Giáo hội Công Giáo hưởng thụ một sự độc quyền mục vụ thờ phượng công cộng, cho dù  trên lãnh vực địa lý có những cộng đồng Do Thái khoảng chừng 40,000 người vẫn bảo tồn một ý nghĩa về căn cước mạnh mẽ riêng biệt tại Bordeaux, Comtat-Venassin và Alsace, cũng như khoảng 700,000 tín hữu Tin Lành trong nhiều khu vực ở miền Đông và vùng Massif Central. Những ký ức về các cuộc thánh chiến và sự bất bao dung theo sau sự huỷ bỏ sắc lệnh Nantes 1685 vẫn tồn tại đầy uy lực: người dân  xứ Pont-de-Monvert ở trong vùng đất trung tâm Tin Lành  Camisard nổi dậy vào năm 1700 đã có một đội quân và một lãnh chúa Công Giáo để nhắc nhở họ hàng ngày về sự áp bức của họ. Tuy nhiên, trong khi 97% dân Pháp trên danh nghĩa là Công Giáo, các mức độ thực thi tôn giáo ngoại hàm (sự quan sát bề ngoài về việc thực hành tôn giáo như việc tham dự lễ Phục Sinh) và yếu tố  nội tâm (sự quan trọng trong việc cá nhân tuân theo các lời truền dạy) lại thay đổi đa dạng trong cả nước. Dĩ nhiên, nội dung của tâm linh thì phần lớn vượt ra khỏi tầm vói của các nhà sử học, tuy nhiên, sự thái hoá niềm tin tại một số khu vực, ít nhất người ta có thể cảm nhận qua  sự gia tăng số lượng các cô dâu có thai trước đám cưới (từ 6.2% lên 10.1% trong cả nước) và sự suy giảm của việc đào tạo linh mục (số lượng tuyển mộ người mới giảm  23% trong khoảng 1749-1789).

Lý thuyết Công Giáo mạnh mẽ nhất ở miền Tây và vùng Brittany, dọc theo rặng núi Pyrénées và phía Nam vùng Massif Central, những khu vực có đặc tính tuyển mộ mạnh mẽ hàng giáo sĩ từ các cậu bé trai ở trong các gia đình địa phương hội nhập cao vào cộng đồng và nền văn hoá của họ. Hơn nữa, cũng tại miền Tây này, lợi tức hàng năm của giáo sĩ cao hơn nhiều so với đồng lương tối thiểu quy định. Đây là một trong một số nhỏ phần đất của quốc gia nơi lệ phí thu góp được trả cho cấp giáo sĩ địa phương hơn là thu góp bởi giáo phận, từ đó tạo sự dễ dàng cho các linh mục để quản lý những nhu cầu của giáo xứ. Khắp mọi nơi, những tín hữu trong giáo xứ ngoan đạo nhất  thường là người già cả, phụ nữ và quê mùa chất phác. Khoa thần học mà họ được trình bày đánh dấu bằng sự nghi ngờ của Công Đồng Trent về những khoái lạc trần tục, bằng sự nhấn mạnh vào uy quyền của giáo sĩ và bằng sự tưởng tượng mạnh mẽ về những sự trừng phạt đang chờ đón những kẻ tội lỗi sau khi họ qua đời. Yves-Mitchel Marchais, linh mục chính xứ của giáo xứ mộ đạo Lachapelle-du-Gênet ở miền Tây đã thuyết giảng rằng: “Mọi thứ được coi là một hành vi không trong sạch hay một hành động xác thịt bất chính, khi  một người tự nguyện thực thi, là một tội lỗi nội tại và hầu như là một tội lỗi đáng chết và với kết quả  sẽ bị khai trừ khỏi nước Trời.” Một khi bị loại trừ, những kẻ phạm tội sẽ chịu những trừng phạt đang chờ đợi họ:

Đói khát, chiến tranh, ngập lụt, hoả hoạn cùng đủ các bệnh tật đau răng, nhức mỏi tay chân, động kinh co giật, sốt cao... cùng đủ thứ tra tấn mà các liệt sĩ đã từng trải qua như gươm chém, bừa cào, thú dữ cắn xé hay vạc dầu  sôi lửa bỏng…”

Những vị trí quyền cao chức trọng trong giáo hội Công Giáo thường do tầng lớp thứ hai hay còn gọi là giai cấp quý tộc bá chủ. Các sử gia chưa bao giờ đồng ý nhau về số lượng quý tộc vào thế kỷ 18, một phần vì con số thường dân tuyên bố có thân thế quý tộc trong một cố gắng đạt được các vị trí, tiêu chuẩn và chỗ đứng mà chúng vượt quá tầm tay nếu chỉ giàu có mà thôi. Những đánh giá mới đây gợi ý rằng có lẽ không có quá 25,000 gia đình thuộc giới quý tộc hay khoảng chừng 125,000 cá nhân là quý tộc, chiếm tỷ lệ 0.4% dân số.

Như một trật tự, giới quý tộc nắm giữ nhiều nguồn tài sản tập đoàn và quyền lực, như  có các đặc quyền về tài chánh và thế lực, thân thế đi đôi với biểu hiệu của sự cao quý và  công việc ngoại hạng ở trong  số các vị trí chính thức. Tuy nhiên, cũng giống như tầng lớp thứ nhất, giới quý tộc cũng có tính chất nội bộ rất đa dạng. Những nhà quý tộc tỉnh lỵ nghèo nhất ở các cơ sở vùng quê có rất ít điểm chung với hàng ngàn quan lại tại Versailles hay các quan tòa ở các toà án tối cao hay các vị trí hành chánh cao cấp, mặc dù cái thân thế quý tộc của họ thường lâu đời hơn những người bỏ tài sản để mua danh vị hay những người được trao tặng tước vị cho công việc hành chánh của họ. Đưa con trai vào học viện quân sự và sự hứa hẹn về một nghề nghiệp  trở thành một viên sĩ quan là một trong những phương cách được ưa thích  để giới quý tộc tỉnh lỵ duy trì được tước vị và một sự bảo đảm kinh tế. Sự có chân trong hàng ngũ quân đội của họ được củng cố nhờ sắc lệnh Ségur ban hành 1781  đòi hỏi các sĩ quan quân đội phải có thân thế của một  người có 4 thế hệ thuộc dòng quý tộc. Riêng trong phạm vi giới đại quý tộc, các giới hạn về gia đình và tài sản còn phân chia hơn nữa từ những thứ bậc nội tại và các đặc quyền khác nhau. Thí dụ: sự phân biệt giữa những người được hiện diện chính thức tại triều đình, những người được phép ngồi trên chiếc ghế cạnh chân khi hoàng hậu có mặt và những người được phép đi trên xe kiệu của bà. Tuy nhiên, tất cả giới quý tộc có một đặc điểm chung là cùng được cấp phát một lợi tức trong một hệ thống vô cùng phức tạp về thân phận và phẩm trật mang đến cho họ những ưu tiên vật chất và tiếng tăm.

Hầu hết các quý tộc có được phần tài sản đáng kể của họ từ đất đai. Trong khi tầng lớp thứ hai này sở hữu hoàn toàn tới một phần ba đất đai của cả nước, họ lại còn xử dụng quyền thế của họ vào phần đất còn lại. Điều quan trọng nhất của những quyền thế này là việc đều đặn thu tô mùa màng trên các vụ mùa chính trên mọi vùng đất thuộc quyền lãnh chúa của họ. Món thu tô này du di  giữa một phần sáu đến một phần mười hai mùa màng, nhưng cũng lên đến một phần tư tại một vài  vùng ở Brittany và trung tâm nước Pháp. Nó lại còn được những quyền lợi đáng kể khác hỗ trợ chẳng hạn như sự độc quyền về lò nấu rượu của làng, về các máy ép dầu ô liu và các nhà máy, lệ phí tài chánh trong việc chuyển nhượng đất đai và ngay cả trong các hôn lễ, đồng thời có quyền đòi hỏi các lao động không công từ phía cộng đồng  trên vùng đất riêng tư của họ vào thời vụ. Người ta đánh giá rằng trị giá của những loại tô phí đó lên tới 70% lợi tức của một quý tộc tại vùng Rouergue nơi lãnh chúa thu tô tới một phần tư sản phẩm của nông dân làm ra, trong khi đó vùng Laugarais lân cận phía Nam chỉ thấp khoảng 8%.

Sự giải quyết về cái nghịch lý là làm sao một xã hội dân quê có thể chịu nổi quá nhiều thành phố tỉnh lỵ trọng yếu như thế nằm trong cách vận hành của các trung tâm vùng miền ở thế kỷ 18 này. Trong một ý nghĩa quan trọng, các thị trấn nội địa phụ thuộc vào miền quê : tất cả các loại thuế má thu tô lệ phí do thành phần cao cấp của 2 tầng lớp ở trên  của nhà nước thu góp được chi tiêu vào các trung tâm thành phố. Thí dụ: giáo phận Cambrai  tạo được của cải từ những tài sản của họ tại các làng mạc như Montigny, nơi họ sở hữu 46% toàn thể khu vực vào năm 1754. Họ cũng là vị trưởng lão của làng, mặc dù đây là khu vực mà chế độ phong kiến vua chúa tương đối khá nhẹ nhàng.

Người dân quê sinh ra trong một thế giới được đánh dấu bởi những tuyên bố về nguồn gốc chủ quyền và thân phận. Khắp mọi nơi, thánh đường giáo xứ và các lâu đài làm bá chủ môi trường xây dựng và nhắc nhở nhiệm vụ lao động và sự khiêm tốn của người dân thường. Trong khi các lãnh chúa ít cư ngụ trong lâu đài quê của họ trong những năm 1780s hơn thời gian trước đó, họ tiếp tục thực thi một lô những đặc quyền áp đặt lên vị trí phụ thuộc của cộng đồng, như dành riêng hàng ghế đầu trong nhà thờ, được mang vũ khí ra nơi công cộng hay chỉ định các viên chức trong làng.
Chúng ta không thể biết về đánh giá sự tôn kính mà họ kiên quyết đòi hỏi có là một sự thừa nhận thành thật đối với sự cao sang của họ không, tuy nhiên , một điều chắc chắn là đã có những khoảnh khắc mà sự hận thù  của dân quê đã làm cho nhiều thành viên quý tộc tuyệt vọng. Thí dụ tại Provence, cộng đồng dân địa phương được yêu cầu  phải ngưng các lễ hội công cộng trong một năm để tỏ lòng kính trọng đối với một thành viên trong một gia đình quý tộc mới qua đời. Tại đây, trong ngày lễ thánh bổn mạng của làng Sausses vào năm 1768, một nhà quý tộc tang gia phàn nàn rằng: “ người ta đánh trống, bắn súng và nhảy múa suốt ngày đêm với muôn sắc màu và đầy tự cao.”

Nước Pháp thế kỷ 18 là một xã hội tập đoàn trong đó đặc quyền là phần thiết yếu đối với thứ bậc xã hội, sự giàu có và thân thế cá nhân. Có nghĩa là con người là thành viên của những trật tự xã hội phát sinh từ một khái niệm thời trung cổ về một thế giới nơi người ta có nhiệm vụ phải cầu nguyện, chiến đấu và làm việc. Đây là một tầm nhìn cố định hay bất di bất dịch của cái trật tự xã hội mà nó không đi song hành với những đo lường khác về giá trị con người chẳng hạn như sự giàu có. Tầng lớp lao động (tầng lớp thứ ba) chiếm tới 99% dân số, bao gồm tất  cả các thường dân từ đám ăn xin đến những thương gia giàu có. Hai tầng lớp đầu liên kết trong nội bộ với nhau bởi những đặc quyền mà tầng lớp họ được hưởng và bởi cái ảo tưởng của họ về thân thế và nhiệm vụ xã hội của họ. Tuy nhiên, trong nội bộ của chính họ cũng phân chia bởi những sự khác nhau về thân thế và mức độ giàu có. Đặc biệt, bất kể là pháp luật, tài chánh, nghề nghiệp hay vùng miền, đỉnh cao của mọi hình thức đặc quyền luôn luôn dành cho thành phần ưu tú nhất của quý tộc thuộc  hai tầng lớp trên. Những gia đình quý tộc cổ xưa và vô cùng giàu có này ở trên đỉnh cao quyền lực chia xẻ một quan niệm về uy thế chính trị và xã hội mà họ diễn tả bằng sự công khai phô trương qua y phục họ mặc, nơi ăn chốn ở và lối tiêu xài xa xỉ của họ.

Hai tầng lớp đầu này là những tập đoàn có đặc quyền đặc lợi. Nghĩa là vương triều đã công nhận thân thế ưu tiên của họ từ lâu qua những luật lệ ban cho thành viên của họ và qua việc miễn trừ thuế khoá.  Giáo Hội chỉ phải trả một phần đóng góp tự nguyện cho quốc gia qua quyết định của hội đồng quản trị của chính họ, luôn luôn không quá 3% lợi tức của họ. Giới quý tộc thường được miễn trừ đóng thuế trực tiếp, ngoại trừ phần phụ thu khiêm nhường một phần hai mươi áp đặt năm 1749. Tuy nhiên, mối liên hệ giữa những tầng lớp có đặc quyền và hoàng gia, một trụ cột thứ ba của đất nước Pháp được đặt căn bản trên sự phụ thuộc hỗ tương và  qua thương lượng. Nhà vua là người đứng đầu giáo hội Gaulois (Pháp cổ), một giáo hội có một số giới hạn  về tự trị nào đó đối với toà thánh La Mã, nhưng đổi lại, giáo hội Pháp lại phụ thuộc vào thiện chí của  nhân thân Giáo hội để duy trì tính chính danh của chế độ quân chủ của mình. Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo thụ hưởng một sự độc quyền về việc thờ phượng nơi công cộng và các luật lệ về luân lý đạo đức. Tương tự, để có được sự tuân thủ và lòng tôn kính của giới quý tộc, nhà vua chấp nhận rằng họ phải được đặt lên vị trí cao nhất của mọi cơ quan, từ Giáo hội cho đến các lực lượng vũ trang, từ ngành tư pháp cho đến hành pháp của nhà vua. Jacques Neckers, một chủ ngân hàng và là bộ trưởng tài chánh 1777-1781 và chủ tịch hội đồng bộ trưởng từ 1788 của vua Louis XVI là người duy nhất không thuộc giới quý tộc trong thành phần nội các của ông.

Nơi cư trú của nhà vua tại cung điện Versailles là nơi phát ngôn uy lực áp chế nhất của nước Pháp trong thế kỷ 18. Tuy nhiên, văn phòng làm việc của nhà vua vừa có kích thước nhỏ vừa có những nhiệm vụ giới hạn trong các mệnh lệnh nội bộ, về chính sách ngoại giao và thương mại. Chỉ có 6 bộ có tên chính thức và 3 trong số được chia cho bộ ngoại giao, bộ chiến tranh và bộ Hải Quân. 3 cái khác liên quan tới tài chánh, tư pháp và quản lý hoàng gia. Đa số việc thu thuế được phân chia cho thành phần nông gia tư nhân. Điều quan trọng nhất, mọi khía cạnh của những cơ cấu trong đời sống công cộng, trong quản trị hành chánh, thuế quan và các cách đo đạc, luật lệ, thuế má và cả Giáo Hội đều mang dấu ấn của đặc quyền và sự phát triển lịch sử trong suốt 7 thế kỷ bành trướng lãnh thổ dưới sự cầm quyền của nhà vua. Cái giá mà vương triều đã phải trả để bành trướng đất đai từ thế kỷ 11 là để được công nhận các quyền lợi và đặc quyền tại các khu vực mới chiếm được. Quả thật, vương quốc Pháp bao gồm một vùng đất rộng lớn Avignon và the Comtat-Venaissin nơi đã từng liên  tục trực thuộc Giáo Hoàng  kể từ những ngày Toà Thánh lưu vong tại đó vào thế kỷ 14.

Loại hiến pháp mà vua nước Pháp dùng quản trị đất nước thuộc loại tục lệ bất thành văn. Điều thiết yếu của nó là Louis là vua nước Pháp nhờ ân sủng của Thượng Đế và nhà vua chỉ có trách nhiệm trước mặt Thượng Đế  đối với sự an nguy của thần dân của vua. Dòng giõi hoàng gia là dòng giõi Công Giáo và sẽ chỉ truyền ngôi cho người con trai trưởng (gọi là luật Salic). Nhà vua đứng đầu cơ quan hành chánh và toàn quyền bổ nhiệm các bộ trưởng, các nhà ngoại giao và các viên chức chính quyền cao cấp, đồng thời giữ quyền tuyên chiến  và nghị hoà. Tuy nhiên vì toà tối cao hay quốc hội viện có nhiệm vụ ghi nhận đăng ký các sắc lệnh của vua, càng ngày họ càng chiếm lấy nhiều quyền hạn hơn cái họ được ban cấp cho công việc đúng theo tư pháp. Hơn thế, viện quốc hội đã nhất quyết rằng những ‘phản biện dè dặt’ của họ cũng nhằm bảo vệ thần dân chống lại những vi phạm về các quyền hạn và đặc quyền của họ trừ khi nhà vua lựa chọn xử dụng một điều lệnh tư  pháp để áp đặt ý nguyện của vua.

Các thoả hiệp có tính cách lịch sử mà các triều đại nước Pháp đã phải ký kết để bảo đảm sự chấp nhận của những vùng đất mới thu đạt được trong nhiều thế kỷ đã được biểu lộ qua những giàn xếp hệ thống thuế khoá rất phức tạp trên toàn lãnh thổ. Loại thuế trực tiếp chính thức, gọi là thuế thân, khác nhau giữa các vùng miền và các thành phố đã hoàn toàn mua chuộc được họ. Thuế gián tiếp, một loại thuế muối, thay đổi từ 60 đồng livres đến chỉ khoảng 1 livre và 10 xu trên 72 lít  muối. Olwen Hufton đã diễn tả về từng đoàn phụ nữ giả mang thai để mang lậu muối từ Brirtany, một nơi chịu thuế thấp nhất qua phiá Đông đến những vùng thuế cao để hưởng lợi từ cách buôn bán gian lận thuế má trong loại hàng nhu yếu này.

Trong vấn đề hành chánh cũng vậy, điểm chính yếu là ngoại trừ và miễn trừ. 58 tỉnh miền của nước Pháp thế kỷ 18 được chia thành nhóm với mục đích quản trị thành 33 tổng khu.. Những đơn vị tổng khu này vô cùng khác biệt nhau về kích thước và hiếm khi trùng hợp với các lãnh địa của giáo phận tôn giáo. Hơn nữa, quyền thế của các vị đại quan của vua lại có thể thay đổi một cách đáng kể. Một số vùng tổng khu, được coi như tiểu bang như Brittany, Languedoc và Burgundy đã tuyên bố một số hình thức tự trị, thí dụ như tự trị trong sự phân phối thuế khóa mà những vùng miền khác không có được. Các giáo phận tôn giáo cũng được sắp xếp theo kích thước và sự giàu có từ tổng giáo phận Paris tới những toà giám mục nghèo nàn với những ngôi thánh đường bé nhỏ do kết quả của những đồng thuận chính trị trong những thế kỷ trước, đặc biệt tại miền Nam với sự lưu vong của Giáo Hoàng tới Avignon vào thế kỷ 14.

Bản đồ hành chánh nước Pháp và các biên giới của giáo phận tôn giáo đã không trùng hợp với phán quyết của toà tối cao. Quốc hội viện Paris thi hành quyền lực trên một nửa đất nước, trong khi hội đồng chủ quyền Arras chỉ có một quyền tự quyết địa phương nhỏ nhoi. Nói chung, trung tâm hành chánh, tổng giáo phận và cơ quan tư pháp thủ đô đặt bản doanh ở những thành phố khác nhau trong cùng một khu vực. Hơn nữa, vượt qua những biên giới này còn là một sự phân chia cổ xưa giữa các vùng theo luật La Mã thành văn ở phía Nam và các vùng theo tập quán bất thành văn ở phía Bắc. Bên cạnh  sự phân chia này lại còn hàng chục luật lệ địa phương và dĩ nhiên, hàng giáo sĩ và giới quý tộc  cũng có những luật lệ riêng biệt của họ nữa.

Những người có liên quan đến thương mại và nghề nghiệp chuyên môn lại phàn nàn về những khó khăn gây ra cho công việc của họ bởi sự phức tạp của hệ thống luật lệ trên. Thêm chướng ngại nữa  đến từ quá nhiều các hệ thống tiền tệ, cân đo đong đếm khác nhau. Không có một tiêu chuẩn thống nhất trong sự đo lường về kích thước và khối lượng cho cả nước. Quý tộc và các thành phố tự ấn định mức thuế cho phí qua trạm khi người ta chuyên chở sản phẩm qua sông, Vào năm 1664, đa số miền Bắc nước Pháp đã tạo nên một liên hiệp thuế quan, nhưng đã có những nhà thuế quan giữa họ và phần còn lại của quốc gia, mặc dù không phải lúc nào cũng giữa biên giới của các vùng và phần còn lại của Âu Châu. Những vùng miền phía Đông thường dễ dàng trao đổi buôn bán với nước Phổ hơn là với Paris.

Mọi lãnh vực của cuộc sống công cộng của nước Pháp thế kỷ 18 được biểu hiện qua sự đa dạng vùng miền và chính sách miễn trừ cùng sức mạnh bền bỉ của các nền văn hoá địa phương. Các cơ cấu vương triều và quyền thế tập thể của giáo hội và giới quý tộc càng thêm phức tạp vì những thực thi kiểu địa phương, những miễn trừ và sự trung thành.  Vùng Corbières của xứ Languedoc đã cho một ví dụ về sự phức tạp của cơ cấu và những giới hạn về việc kiểm soát mà vương triều gặp phải trong cuộc sống hàng ngày. Đây là một khu vực mà 129 giáo xứ của nó nói tiếng Occitan ngoại trừ 3 ngôi làng Catalan ở vùng biên giới phía Nam của vùng. Dù vậy khu vực vẫn bị phân chia trong các lãnh vực hành chánh, tôn giáo, tư pháp và các mục tiêu thuế khóa giữa các văn phòng tại Carcassonne, Narbonne, Limoux và Perpignan.  Biên giới của những cơ sở này lại không lâu bền: thí dụ, có những ngôi làng lân cận nhau do Perpignan quản trị hành chánh, nhưng lại trực thuộc các giáo phận khác nhau.  Trong suốt vùng Corbières, có tới mười cách đo lường khối lượng khác nhau khi dùng căn bản setier (một setier khoảng 85 lít) và không dưới 50 cách đo lường diện tích khác nhau: một sétérée (sétérée = sào?) thay đổi từ bằng 0,16 mẫu ở vùng bình nguyên lên tới 0.51 mẫu ở những vùng cao.

Voltaire và một số nhà cải tổ khác đã vận động chống lại cái mà họ gọi là sự bất bao dung và sự tàn ác của hệ thống tư pháp, khét tiếng nhất với trường hợp tra tấn và hành quyết Jean Calas, một tín đồ Tin Lành ở Toulouse năm 1762, người bị kết án cố ý giết con trai của mình để ngăn đứa con trở lại đạo Công Giáo. Những sự trừng phạt mà Voltaire và những người khác lên án là sự biểu lộ về một nhu cầu của chế độ dùng để từ từ nắm lấy sự kiểm soát một vương quốc rộng lớn và rất đa dạng qua sự hù doạ và gây sợ hãi. Các màn trừng phạt thể chất thường rất nghiêm khắc và nổi bật. Vào năm 1783, một thầy tu hoàn tục Capucin bị tố cáo sách nhiễu tình dục một cậu con trai và đâm chém nạn nhân 17 lần đã bị tra tấn trên bánh xe quay và thiêu sống tại Paris. Hai kẻ ăn mày ở Auvergne cũng bị tra khảo trên bánh xe quay vào năm 1778 vì tội danh dùng gươm và súng hăm doạ một nạn nhân của họ. Nói chung, 19% các vụ xử trước toà án tiên khởi tại Toulouse giữa khoảng 1773 – 1790 đưa đến việc hành quyết tại công cộng (đến năm 1783 tăng lên tới 30.7%) và một con số tương đương lãnh án chung thân tại các nhà tù.

Tuy nhiên, theo hầu hết các người đương thời, vương triều của Louis XVI dường như là một triều đại ổn định và quyền lực nhất trong các chế độ. Trong khi sự chống đối mang tính địa phương, cho dù là các bạo loạn về vấn đề thực phẩm hay những  than phiền về những cao ngạo của thành phần được ưu tiên, chúng vẫn hầu như luôn nằm trong giới hạn  của hệ thống, đó là chống lại những đe doạ đối với những  cách lý tưởng hoá  mà trong đó người ta  tin rằng hệ thống một thời đã từng có hiệu quả.  Quả thực, trong suốt thời kỳ bất ổn sâu rộng những năm trước 1789 của cuộc chiến “bột mì” ở miền Bắc nước Pháp 1775, những người nổi loạn đã hô to rằng họ nhân danh nhà vua đòi hạ thấp giá bánh mì ở mức giá theo truyền thống là 2 xu một cân Anh, một sự thừa nhận ngầm về trách nhiệm của vua trước mặt Thượng Đế về sự an sinh của thần dân của nhà vua. Tuy nhiên, vào những năm 1780s, một loại các thay đổi lâu dài trong xã hội Pháp đặt cơ bản trên quyền ưu tiên và các tập đoàn. Những khó khăn về tài chánh càng thử thách thêm khả năng của thành phần ưu tú để đối phó với những thiết yếu của sự thay đổi.  Một khủng hoảng chính trị bất ngờ rất có thể sẽ làm cho những căng thẳng và vấn nạn đó hiện lên thật rõ nét.

Khi nhà vua chạy trốn - chương 1


Chương 1: Thưa Hoàng Thượng, ngài không thể đi qua được.


Đó không phải là một thị trấn đặc biệt. Đó là một thị trấn nắm bên bờ dòng sông Aire nhỏ bé chảy qua giữa 2 rặng đồi của cánh rừng Argonne thuộc vùng Đông Bắc nước Pháp, nơi có một cộng đồng nho nhỏ chừng ngàn rưởi nhân mạng với công việc hàng ngày của họ nếu không mở tiệm buôn bán kinh doanh thì cũng thợ thủ công hay nông dân làm chủ các trang trại trồng lúa hoặc các vườn cây ăn trái ở các miền quê lân cận. Cũng giống như hầu hết các thị trấn khác ở khắp nước Pháp, đây là vùng nước xoáy đọng lại. Con đường độc đạo này chạy từ Phía Nam dẫn vào thị trấn Varennes  phải đi qua một cái cổng chào nằm trong khu vực ngay  cạnh  ngôi thánh đường nhỏ trước uốn lượn qua thị trấn trước khi băng qua con sông  trên một cây cầu gỗ nhỏ hẹp. Ở phía Bắc, cách xa thị trấn chừng ba bốn mươi dặm là những đồn canh Sedan và Montmédy, nơi quân lính biên phòng trú đóng tại khu vực biên giới , ngày nay trực thuộc biên giới nước Bỉ, nhưng tại thời điểm đó lại là vùng đất thuộc đế quốc Áo. Thời đó, lòng đường vẫn còn gồ ghề lớm chởm rất xấu do bởi chỉ được chăm sóc bảo trì sơ sài qua bàn tay của dân quân địa phương. Đối với cư dân, thị trấn này dường như là cứ điểm văn hoá và thương mại cuối cùng, một nơi hẻo lánh hiếm khi có chuyện xảy ra.
Thế nhưng, vào cái đêm 21 tháng Sáu 179, tại đây đã có chuyện lạ xảy ra.  Khoảng mưới một giờ đêm, hầu hết cư dân đã say ngủ, bóng trăng vẫn chưa lên cao, thị trấn ẩn mình trong bóng đêm lặng lẽ. Điểm sáng duy nhất le lói giữa thị trấn phát ra từ một quán trọ nhỏ có tên Golden Arm  nằm bên lề  con đường chính ở một góc công viên nhỏ  không xa cổng chào. Trong quán hiện có một nhóm thanh niên trẻ còn đang ngồi uống rượu chuyện trò tán gẫu. Trên lầu quán trọ cũng có một cặp khách lạ nghỉ chân qua đêm, một nhóm kỵ binh nói tiếng Đức vừa mới tiến vào thị trấn và trú đóng trong một tu viện gần đó. Và cuối cùng là 4 anh bạn trẻ thân thiết địa phương, cả 4 là tình nguyện  viên của một đại đội vệ binh quốc gia. Một trong 4 người là chủ quán trọ Jean Le Blanc. Ba người kia là thằng em trai Paul của Jean, Joseph Ponsin, con trai ông giáo làng và Justin George con ông thị trưởng. Lúc này ông bố của Justin đang đi họp vắng ở tận Paris trong mhiệm vụ  là một  đại biểu của Hội Đồng Lập Hiến Quốc Gia. Cả bọn có lẽ đang hăng say thảo luận về những tin tức mới nhất của cuộc Cách Mạng. Rất có thể họ đang đặt nghi vấn về bọn kỵ binh Đức, cố tìm hiểu lý do mà bọn này có mặt ở thị trấn vào lúc này. Đồng thời cũng cố suy đoán vì sao những ngày gần đây đã có quá nhiều cuộc hành quân của binh lình hoàng gia trong một miền xa xôi hẻo lánh  như thế này.
Ngay lúc này bỗng có 2 người khách lạ tiến vào quán. Người lên tiếng nói là một anh chàng đặc biệt to lớn và đầy tự tin. Anh tự giới thiệu là Drouet và ngay tức khắc hỏi đám thanh niên trong đám có yêu nước mãnh liệt không. Khi họ trả lời anh ta rằng đó là chuyện dĩ nhiên, anh bèn thuật lại một chuyện thật  đáng kinh ngạc.  Drouet làm quản lý cho một tạm thay ngựa ở tại Sainte Menehould, một thị trấn cách đây chừng 30 cây số về phía Tây Nam. Chỉ mới cách đó vài giờ, anh đã nhìn thấy nhà vua và hoàng hậu cùng cả hoàng gia nước Pháp đang di chuyển trên 2 chiếc xe ngựa. Họ dừng lại thay ngựa ở trạm chuyển tiếp của anh. Sau khi đã thảo luận với các vị lãnh đạo thị trấn, anh và người bạn Guillaume, cả hai từng là kỵ binh, bèn cưỡi ngựa đuổi theo đoàn xe của nhà vua và vừa qua mặt họ khi họ dừng lại nghỉ chân bên lề đường ở ngay đầu thị trấn Varennes . Anh chắc chắn đó là nhà vua và biết họ đang đi về hướng biên giới nước Áo. Anh nói rằng vì sự an nguy của đất nước và của cuộc Cách Mạng, hành trình của nhà vua và hoàng gia phải bị chặn lại.
Một chuyện hoang tưởng như vậy thật khó để tin tưởng. Nhưng lúc này là thời điểm rất đặc biệt. Chính cái mãnh lực và cái cá tính sắt đá của Drouet mang đầy tính thuyết phục đã khuấy động đám thanh niên trẻ hành động. Anh em nhà Le Blanc chạy vội đi đánh thức các thành viên của vệ binh quốc gia và vài nghị viên của thị trấn sống quanh đó, rồi họ về nhà trang bị súng ống. Cùng lúc, Drouet , Guillaume và mấy người kia vội vã chạy ra chặn lối qua cầu bằng một toa xe chất đầy đồ đạc bàn ghế.
Viên đại biểu hội đồng đầu tiên đến hiện trường là Jean Baptiste Sauce, công tố viên thị trấn, người thay mặt viên thị ttrưởng đang đi vắng để điều hành quản lý thị trấn. Anh trạc 36 tuổi, cao lớn, lưng hơi khòm và hói đầu, vừa buôn bán tạp hoá vừa sản xuất đèn cầy. Mặc dù trình độ kiến thức có hạn chế với những bài viết đầy lỗi chính tả, anh ta có một tình yêu nước nồng nàn và một cá tính điềm đạm đặc sắc khiến mọi người trong thị trấn kính trọng. Sững sờ với tiếng gọi cửa đánh thức của Le Blanc, anh cũng vẫn cố thay y phục cho thật tươm tất rồi  vội vã ra khỏi nhà với chiếc lồng đèn, không quên dặn hai đừa con trai đi loan báo tin tức đến mọi nhà trong phố bằng lối thông tin cổ truyền là ra đường la lớn “ cháy, cháy!”.  Vào khoảng 11.20pm, Sauce, George, Ponsin, anh em nhà Le Blanc và 2 người khách từ Sainte Menehould đã tụ họp được chừng nửa tá những hàng xóm ở quanh quán trọ. Ngay lúc đó, hai chiếc xe ngựa mà Drouet vừa kể tiến vào dưới vòm cổng chào với 2 người cưỡi ngựa đi hộ tống.
Trong khi vài vệ binh cầm đuốc soi đường, vài người khác giương súng lên ép buộc 2 người đánh xe ngựa dừng lại và bước xuống xe. Sauce tiến lại gần chiếc xe đầu, một loại xe nhỏ 2 ngựa kéo. Anh ta  nhìn vào bên trong xe thấy có 2 người đàn bà sợ hãi run rẩy. Họ bảo anh rằng giấy tờ tuỳ thân của họ đang nằm ở chiếc xe đàng sau. Sauce bèn đi sang chiếc xe đó, một chiếc xe to lớn có 6 ngựa kéo và chất đầy hành lý. Anh ta soi cái đèn lồng trên tay vào cửa sổ xe và thận trọng nhìn vào phía trong.


Trong xe dường như có 6 người: 2 đứa trẻ không biết là trai hay gái, 3 người đàn bà ăn mặc kiểu tầng lớp trung lưu, một người còn trẻ chừng 20 và khá xinh đẹp, 2 người kia lớn tuổi hơn, và cuối cùng là một người đàn ông dáng đẫy đà  với cái mũi to và cái cằm chẻ. Ông ta ăn vận như một thương gia hay một luật gia. Sauce thì chưa bao giờ có cơ hội nhìn thấy nhà vua, nhưng anh ta thấy người này có vẻ tương tự như những hình ảnh của hoàng gia mà anh đã từng gặp.
Mặc cho họ phản đối, anh vẫn mang hết các giấy tờ thông hành của họ vào quán kiểm tra kỹ lưỡng hơn. Với nhiều nhân viên của thị trấn tập trung trong đó, anh ta đọc to lên giấy thông hành của  một nữ Bá tước người Nga danh hiệu phu nhân De Korff đang trên đường đến Frankfurt, được bộ ngoại giao cấp  và ấn ký bởi chính nhà vua Louis XVI. Mặc dù giấy phép thông hành có vẻ rất mù mờ về số lượng người được cấp chiếu khán và mặc dù lộ trình đi  từ Paris qua thị trấn Verennes này để tới nước Đức có vẻ không hợp lý lắm, nhưng giấy tờ  dường như hợp lệ, cho nên Sauce và các đồng sự tính cho phép họ đi qua. Nhưng Drouet ngưởi đã bỏ nhiều thời gian và công sức cũng như danh dự trong vụ này nên rất kiên quyết. Anh ta biết rõ là đã nhận ra nhà vua. Anh cũng nhìn thấy rõ ràng ở tại Sainte Menehould, một tay đại uý thuộc giới quý tộc đến cạnh chiếc xe giơ tay chào và nhận lệnh như kiểu vâng lệnh một thượng cấp. Nếu các viên chức ở thị trấn này để cho hoàng gia đào tẩu ra nước ngoài, họ sẽ mang tội phản quốc. Thêm vào đó, Drouet khẳng định, giấy phép thông hành không có giá trị bởi không có đồng chữ kí của chủ tịch Hội Đồng Lập Hiến Quốc Gia. Thực ra, không có yêu cầu phải có chữ ký của chủ tịch Hội Đồng Quốc gia  mới hợp pháp, nhưng mọi người chẳng ai biết điều đó đúng hay sai. Vì vậy, cuối cùng họ quyết định  tìm cách câu giờ.
Khách du hành trên xe được thông báo rằng giờ đã quá muộn để xem xét kỹ lưỡng giấy tờ. Vả lại trong trời đêm với  điều kiện tồi tệ của con đường trước mặt , tiếp tục hành trình sẽ rất nguy hiểm, nên hãy chờ tới khi trời sáng. Mặc cho những phản đối giận dữ, đoàn lữ hành gồm 8 người cùng ba đi hộ tống trong đồng phục mầu vàng bị ép buộc xuống xe và được tạm trú ngay trong nhà của ông chủ tạp hoá Sauce. Họ được dẫn  đi qua con đường đá sỏi từ quán trọ đến gian hàng của Sauce, leo lên một cầu thang bằng gỗ tới một căn hộ 2 phòng ngủ. Lúc đầu, đoàn người cồ giữ nguyên tung tích của họ. Một bà trung niên tự xưng là nữ Bá Tước De Kroff nằng nặc bảo rẳng họ đang rất gấp, cần được đi ngay đến nước Đức. Tuy nhiên, với sự ám ảnh về việc người đàn ông quá giống hình ảnh nhà vua, Sauce bỗng nhớ ra rằng có ông Jacques Destez một thẩm phán địa phương đã cưới một bà vợ ở tại Versailles và vì vậy ông ta đã có nhiều dịp gặp gỡ hoàng gia. Vậy là anh ta đến thẳng nhà của viên thẩm phán đánh thức ông dậy và đưa ông đến nhà anh. Chỉ vừa mới bước lên khỏi cầu thang, Destez đã quỳ gập xuống cúi đầu và run rẩy trong sự xúc động. “Ô Lạy Chúa! Bẩm Hoàng Thượng!” ông la lên.
Thật là một chuyện thần kỳ, Louis XVI, vua nước Pháp lại có mặt ở thị trấn này, ngay trong phòng ngủ của người bán tạp hoá. Lại có cả hoàng hậu Marie-Antoinette, cô công chúa 12 tuổi và vị thái tử kế vị ngai vàng lên 5 của họ . Đi cùng  còn có  cô em gái  Elizabeth của vua cùng đứa con của bà. Mọi người đứng lặng người. Bà mẹ già của Sauce sau đó lại gần. Bà quỳ xuống nức nở, chẳng bao giờ  bà có thể tưởng tượng có ngày thấy mặt đức vua và vị thái tử bé nhỏ. Khi nhận ra rằng tung tích đã bại lộ, Louis XVI giờ cất tiếng: “ Phải, ta chính là đức vua của các ngươi. Ta đến để sống với các ngươi, hỡi thần dân của ta, làm sao ta có thể bỏ rơi các ngươi”. Sau đó nhà vua làm một hành vi rất đáng chú ý. Ông bước đến từng người một trong đám viên chức thị trấn và ôm lấy họ. Sau đó ông kêu gọi họ lắng nghe chuyện của ông. Ông bị buộc phải trốn khỏi dinh thự ở Paris vì có một đám  Jacobins điên cuồng làm cách mạng  đã chiếm đoạt thành phố. Tệ hơn nữa, bọn gây náo loạn này đã liên tục gây nguy hại cho sinh hoạt của hoàng gia.  Thật ra, nhà vua bảo họ, ông không có ý định trốn qua nước Đức mà chi muốn di hành tới khu phố cổ Montmédy gần biên giới. Từ vị trí xa xôi đó, khuất tầm mắt của lũ phản loạn, ông có thể tập trung để lấy lại vương quyền và dẹp yên hỗn loạn trong tình trạng vô chính phủ đang ngày càng hung bạo. Ông nói: “Sau khi bị buộc phải sống trong vòng vây của gươm đao giáo mác, ta đã di hành về miền quê để tìm lại tự do và bình lặng như các ngươi đang sống đây. Nếu ta cứ ở lại Paris. Ta cùng hoàng gia sẽ chết.” Nhà vua yêu cầu thị trấn chuẩn bị thay ngựa cho xe và để hoàng gia lên đường hoàn tất hành trình.
Bị khuất phục bởi xúc động trong giây lát, lại sợ hãi và bị áp đảo vì cái uy lực của hoàng gia cũng như hào quang của nhà vua  khi họ có mặt ở nơi này, những người lãnh đạo thị trấn có ý giúp đỡ. Họ nói, nếu cần, họ sẵn sàng hộ tống đức vua tới tận Monmédy. Ngay khi trời vừa sáng, họ sẽ phái các thành viên của họ trong lực lượng vệ binh quốc gia đi theo bảo vệ vua. Khi họ quay trở lại hội trường thị trấn để sắp xếp công việc, đầu óc vẫn còn hoang mang. Làm sao có thể không tuân lệnh của chính nhà vua,  người đang trị thừa kế  một cơ nghiệp vương quyền đã cai trị nước Pháp hơn tám trăm năm?
Do đó sau khi đã khuất tầm mắt của vua và đã thảo luận với những người khác, họ bỗng nhận ra sự phức tạp của tình thế mà họ đang lâm vào. Họ bắt đầu có những suy nghĩ khác.

Cuộc Cách Mạng qua mùa hè thứ ba

Đối với cư dân thị trấn Varennes, họ không còn  giống như những ngày tháng Hai năm trước. Chỉ trong mấy tháng trước đây, thị trấn đã trải qua một loạt những biến chuyển lạ thường đã khuấy động đến mọi ngóc ngách của vương quốc và đã làm thay đổi hoàn toàn cái phương cách mà cư dân nhìn lại  chính họ và vị trí của họ đối với thế giới. Vào tháng Ba 1789, sau một loại các biến cố tưởng như chẳng có liên quan gì đến họ, cánh đàn ông trong thị trấn tuổi từ 24 trở lên và có đóng thuế được mời tham gia vào một cuộc bầu cử quốc gia, một sự kiện để chọn ra những đại biểu được bầu vào Hội Đồng Đại Biểu Tổng Quát, một cơ chế đã không hề được thành lập trong suốt 171 năm qua. Varennes đã là nơi vừa có cuộc bầu cử địa phương, vừa có cuộc bầu cử khu vực thứ cấp đưa đến việc lựa chọn thị trưởng riêng cho chính họ, một cựu luật gia, lúc đầu là một đại biểu dự bị và sau đó trở nên đại biểu thực thụ của Hội  Đồng Lập Hiến Quốc Gia. Một điều khác có lẽ quan trọng không kém là những hội nghị về việc đầu phiếu hồi tháng Ba đã được yêu cầu ghi lại những bất mãn của người dân mong được thấu đến tai nhà vua. Mặc dù cái danh sách những bất mãn này của Varennes đã bị thất lạc, nó có lẽ cũng không khác mấy với cái bản được lưu lại của cái thị xã nhỏ Montfaucon cách đó chỉ 6 dặm.  Trong khi người dân trong các cộng đồng khắp nước Pháp bắt đầu không tiếc lời ca ngợi  việc nhà vua Louis XVI công bố các cuộc bầu cử, rải rác vẫn có những đòi hỏi có sự thay đổi từ đủ loại các cơ cấu địa phương. Họ yêu cầu giảm bớt gánh nặng thuế khoá. Họ đòi hỏi mọi công dân kể cả giới tu hành và giới quý tộc  phải trả thuế đồng đều tuỳ thuộc vào số doanh thu. Họ yêu cầu quyền quản trị được phân tán xuống cho các hội đồng điạ phưong và  ngân sách chi phí nhiều hơn cho việc giáo dục trẻ em. Nhưng bất cứ điều cá biệt gì được yêu cầu, hành động mạmh nhất của công dân Varennes cũng như trên khắp vương quốc Pháp cũng chỉ là phàn ánh một cách có hệ thống về đời sống của họ và những tranh cãi  tốt nhất về sự  thay đổi, cải thiện hay huỷ bỏ hết đi các cơ cấu hay  các cách thực hiện, cái nào là tốt nhất;  những điều này tự chúng đã là một biến cố cách mạng. Từ đó dấy lên nhũng kỳ vọng lớn lao cho một sự thay đổi bao quát mọi lãnh vực chính trị, kinh tế,  xã hội và cả  các cơ cấu thuộc về giáo hội.
Trong những tháng ngày tiếp theo, cư dân thị trấn Varennes thep dõi thời sự một cách kinh ngạc khi cái Hội Đồng Đẳng CấpTổng Quát mà họ giúp bầu lên bỗng biến đổi thành Hội Đồng Lập Hiến Quốc Gia. Tân Hội đồng này không chỉ lập ra để soạn thảo hiến pháp đầu tiên cho nước Pháp, nó còn khởi động cho                 
một thay đổi hoàn toàn những cấu trúc chính trị và xã hội của Pháp vượt quá xa những đòi hỏi trong danh sách những bất mãn mà họ đưa ra. Khoảng đầu tháng Tám 1789, các tin tức vể vụ phá ngục Bastille ở Paris và chiến thắng đè bẹp một âm mưu rõ ràng nhằm phá vỡ cuộc Cách Mạng đã khiến họ tổ chức một lễ hội ăn mừng lớn vì sung sướng. Có bắn đại pháo chào mừng, pháo bông, lễ hội tại công trường thị trấn, có cả phát chẩn cho người nghèo giống như những ngày đại lễ tôn giáo. Lại cũng có  phần biểu diễn ánh sáng phố thị hiếm hoi mà  thành phố kỳ vọng  vào ban đêm, mỗi hộ gia đình sẽ đặt ánh nến hay ánh đèn lồng trước cửa sổ nhà . Đối với một xã hội chưa quen thuộc với kiểu cách tập trung trưng bày ánh sáng như vậy, quả thực là một cảnh tượng lạ lùng đáng ngạc nhiên.
Nhưng không phải chỉ là việc ăn mừng những sự kiện từ mãi ở đâu đâu. Không bao lâu sau đó, cư dân Varennes được yêu cầu tự đi bầu chính quyền địa phương của họ và tham dự vào việc hàng ngày  tham gia vào  việc soạn thảo  bộ luật mới. Họ tiến vào quá trình liên lạc thường xuyên với Hội Đồng Lập Pháp Quốc Gia, tham khảo cố vấn và thông tin, góp ý với các đại biểu, gửi đi các vận động hành lang và đôi khi cũng đưa ra những đề nghị riêng của họ trong việc soạn thảo hiến pháp.  Sau nhiều thế kỷ dưới sự thống trị của tầng lớp quý tộc, giới giáo sĩ và hoàng gia trong mọi lãnh vực, ngoại trừ việc riêng gia đình và vài việc địa phương, giờ này, họ được mời gọi, đúng ra là cưỡng ép, tham gia vào chính quyền của họ, vào vận mệnh của họ. Một tiến trình như vậy đã truyền đi một xúc cảm đầy thích thú khi được dính líu vào mọi việc. Điều đó cũng thấm vào họ một cảm giác mới về bản sắc quốc gia, bản sắc của người dân Pháp thay thế cho cái thế giới nhỏ hẹp của vùng thung lũng Aire và cánh rừng Argonnes mà từ trước tới giờ được coi  như  những điểm chính liên hệ tới căn cước của cư dân Varennes. Cái phong trào Khai Sáng vĩ đại. cái biến động một là sóng giải phóng trí tuệ và sự tái thẩm định mà đã nở rộ trong số những nhà ưu văn hoá tú tại các thành phố lớn của Âu Châu  vào thế kỷ 18, quả thực  đã từng là điều gì rất xa lạ đối với Varennes. Có lẽ chỉ có với sự thay đổi hiến pháp của cuộc Cách Mạng mà cái châm ngôn về thời đại Khai Sáng của Immannuel Kant : “Dám biết dám hiểu” mới mang lại một ý nghĩa thực sự cho đại đa số người dân ở các thị xã làng mạc xa xôi của miền quê nước Pháp. Chỉ có trong cái ý nghĩa tích luỹ đầy tự tin và sự nhận thức về đất nước là một khối mà chúng ta có thể hiểu được các hành động của những người giống như Drouet và Sause và cả những nhà lãnh đạo địa phương khác ở cả khu vực trong suốt cuộc khủng hoảng mgày 21-22 tháng Sáu năm ấy.
Nhưng có 2 sự việc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cấu thành yếu tố tâm lý cách mạng của cư dân Varennes trong mùa hè 1791 này. Vào tháng Tám 1789, để đối phó với sự đe doạ của tình trạng vô chính phủ và có thể là phản cách mạng sau khi chế độ cũ sụp đổ, thị trấn đã thành lập đội dân quân đầu tiên của thị xã. Hai đại đội vệ binh quốc gia địa phương được thành lập: đội “Săn Lùng” và đội “Bộc Phá” với mỗi đội có quân phục riêng, cờ quạt trống kèn đầy đủ và được chỉ huy bởi các viên sĩ quan do chính họ lựa chọn.. Người ta có thể phóng đại một cách hiếm hoi về cái cảm giác tự hào của những thanh niên Varennes, trên dưới ba trăm người tuổi từ 16 đến 50 thực tập việc đi diễn hành qua phố xá và quanh công viên  với một ban quân nhạc  địa phương đi kèm. Lúc đầu, họ chỉ trang bị một ít loại vũ khí thực sự, loại súng săn hay súng cổ gia truyền. Nhưng khi trình diện với bộ quân phục mới toanh, màu xanh lục cho đội “săn lùng” và màu xanh dương đậm cho đội “Bộc Phá”, họ  cảm nhận được ý nghĩa của mục đích và tầm quan trọng của họ. Tâm trạng của một sĩ quan trong bộ đồng phục, trước đó là một đặc quyền gần như độc nhất của giới quý tộc, bây giờ ở trong tầm tay của bất cứ ai, ngay cả là anh chủ quán trọ Jean Le Blanc hay Justin George, con trai viên thẩm phán tầm thường. Quả thực, có một tay sĩ quan ở trong đội vệ binh của thị Trấn Varennes trong đêm 21 tháng Sáu này, anh chàng trẻ Etienne Raden sau này đã thuyên chuyển qua quân đội chính quy trong thời chiến và đã trở nên một vị tướng trong quân đội Napoleon.
Đến mùa xuân và mùa hè 1790, dân quân Varennes đã gia nhập vào các vệ binh đồng sự ở khắp nơi trong vùng để đi diễn hành trong một loạt các buổi liên kết hay trong các buổi lễ ’liên bang’. Một trong những buổi này  vào ngày 1 tháng Bảy 1790, đã có tới 3000 dân quân tụ họp tại Varennes nơi họ sinh hoạt xã hội, diễn hành và tuyên thệ trung thành với tổ quốc. Hai tuần lễ sau đó, vào ngày kỷ niệm đệ nhất chu niên phá ngục Bastille, Justin George, Etienne Eadet cùng nhiều dân quân Varennes khác đã tiến về Paris để tham gia vào đại  lễ hội liên bang toàn quốc  ở tại cuộc duyệt binh từ  Champ de Mars đến tận phía Tây của thủ đô, nơi bây giờ là công trường tháp Eiffel. Nơi đó, từ phía xa xa, họ đã nhìn thấy vua Louis XVI đang đọc lời tuyên thệ trung thành của ông với  bản tân hiến pháp. Mọi người giờ có thể mường tượng rõ ràng rằng họ chắc chắn nhớ lại cảnh tượng này khi cũng ông vua đó chỉ  một năm sau, có mặt ở trong cái thị trấn bé nhỏ của họ trên con đường đào tẩu, chối bỏ chính cái hiến pháp mà ông đã thề hứa bảo vệ nó.
Cái tổ chức thứ hai cũng quan trọng không kém trong tinh thần cách mạng, không chỉ gói gọn ở Varennes nhưng hầu như khắp nơi trên đất Pháp là cái tổ chức địa phương phổ biến được gọi là ‘câu lạc bộ’. Có lẽ nhờ ảnh hưởng của ông bố đại biểu mà Justin Geprge đã giúp thành lập một chi nhánh câu lạc bộ các thân hữu của Hiến Pháp địa phương vào ngày 25 tháng Ba 1791. Với  số lượng hội viên lúc đầu là 44 người, câu lạc bộ là một trong những hội đầu tiên trực thuộc chi nhánh quản trị mới của vùng Meuse mà Varennes gắn bó. Ít lâu sau họ liên kết với cánh Jacobins ở Paris, một tên tuổi lớn nổi tiếng của  tổ chức xã hội những Thân Hữu của Hiến Pháp. Mục đích tự xưng của câu lạc bộ là ủng hộ và tuyên truyền nhưng đại luật đã được Hội Đồng Lập Hiến Quốc Gia thông qua. Thế nhưng ở tại Varennes cũng như nhiều nơi trong nước, nhóm Jacobins nhanh chóng tiết lộ một lời kêu gọi đặc biệt để làm tai mắt cho Cách Mạng chống lại mọi kẻ thù cùng những kẻ tình nghi.
Vào những tháng trước cuộc khủng hoảng tháng Sáu, câu lạc bộ đặc biệt tập trung vào việc dò xét giới giáo sĩ địa phương. Một năm trước đó Hội Đồng Lập Hiến, nay gọi tắt là Hội ĐỒng Quốc Gia đã thông qua một điều luật tái cơ cấu giáo hội Công Giáo được biết như là hiến pháp về quyền dân sự cho hàng giáo sĩ. Kể từ đầu năm 1791, các đại biểu đã đòi hỏi tất cả các linh mục có quyền hạn ban bí tích giải tội phải tuyên thệ chính thức trung thành với Hiến Pháp một cách tổng quát, và  đặc biệt với sự biến đổi về hàng giáo sĩ. Vào tháng Tư, vị linh mục của thị trấn Varennes, một tu sĩ dòng Méthain bị cán bộ cách mạng tước bỏ nhiệm vụ sau khi linh mục này từ chối tuyên thệ. Cố chấp với lập luận rằng nhà nước không có quyền hạn để truất phế ông, vị linh mục đã ra cử hành thánh lễ trong ngày thứ Sáu tuần Thánh. Cánh Jacobins và một số dân quân đã tiến vào thánh đường dùng vũ lực đuổi ông ra. Trong khi chẳng có bằng chứng nào chứng tỏ các lãnh đạo thị trấn chống lại giới giáo sĩ hay giáo hội, nhưng họ vô cùng phẫn nộ về chuyện có một người từ chối tham gia vào Hiến Pháp lại  vẫn có quyền dạy bảo con cháu họ và còn có qiuyền giải tội cho họ. Sự từ chối tuyên thệ của gần non nửa số giáo sĩ ở những địa phận chung quanh đã làm tăng thêm mối nghi ngờ rằng đang có những âm mưu phản cách mạng đang tiến hành  hoạt động trong vùng .
Quả thực, hầu như ngay từ khởi đầu cuộc Cách Mạng, cái chủ nghĩa lạc quan hàng ngàn năm  gây ra bởi những biến cố ở Paris lại hoà lẫn với lo lắng sợ hãi. Theo nhận thức ở vào thế kỷ 21 này,  đôi khi chúng ta quên đi những mối lo sợ và bất ổn mà con người, với lần đầu tiên trải nghiệm về dân chủ như thế nào, cho dù có nhiệt tâm ủng hộ đến đâu chăng nữa. Thật khó tin rằng giới quý tộc và giới tu sĩ của chế độ cũ sẽ không vận dụng những biến cố đó hoặc họ sẽ không tìm cách đoạt lại quyền hành hay tìm cách trả thù cho những mất mát của họ. Thật ra, có ba vụ bắt bớ do hốt hoảng đã xảy ra tại Varennes trước tháng Sáu 1791, cả ba đều liên hệ tới sự lo sợ về những kẻ thù tưởng tượng, có lẽ trong sự trả đũa của các thành phần trưóc đó có ưu tiên. Vào tháng Tám 1789, cư dân thị trấn đã kinh hoảng với cái tin tức có một đám côn đồ từ miền Bắc tới. Mặc dù chuyện côn đồ không trở thành sự thật, cái phản ứng tự vệ tiếp theo sau tin đồn đó đã làm nền tảng cho việc thành lập các đơn vị dân quân đầu tiên của thị trấn. Chỉ một năm sau đó lại có tin đồn lan ra một cách ghê gớm rằng quân đội đế quốc Áo đã tiến vào xâm lược và đã có khoảng trên dưới 500 vệ binh của các làng mạc lân cận  đã tụ tập đến Varennes giúp chống lại. Một làn sóng lo sợ thứ ba lại xảy ra vào tháng Hai 1791 với tin đồn một đám côn đồ khác đã vượt qua biên giới phía Bắc tràn vào. Mặc dù việc báo động một lần nữa chứng tỏ là không có nguyên cớ, lời kêu cứu  hỗ trợ của thị trấn dẫn tới việc ban quản trị hành chính trung ương đã tiếp tế một số vũ khí đạn dược có cả tới 4 khẩu đại bác tới bảo vệ Varennes. Những đợt hoảng hốt tiếp theo lại cung cấp thêm một loạt những diễn tập được  huy động với mục đích giúp cư dân thị trấn biết  cách đối phó khi sự nguy hiểm thực sự xảy đến. Có lẽ quan trọng hơn cả là sảnh đường của thị trấn Varennes bây giờ đã có được  một  trong những kho chứa vũ khí đạn dược lớn nhất trong cả vùng với  súng đạn trang bị đã sẵn sàng khi cuộc khủng hoảng đêm 21 tháng Sáu này xảy ra.
Ngoài mối lo khuấy rối của bọn côn đồ hay sự xâm lấn của tụi lính Áo, một mối đe doạ có thể thấy nhãn tiền hơn ngay từ đám binh lính hoàng gia đang đồn trú tại Varennes và các khu phố lân cận, trong số có nhiều tay là lính đánh thuê đến từ Đức hay Thuỵ Sĩ. Mối quan hệ quân và dân vẫn thường căng thẳng từ lâu nay, ngay cả trong những thời điểm ôn hoà nhất. Cư dân địa phương thường phải gánh chịu việc nuôi ăn ở quân lính miễn phí. Đám lính trẻ thường khét tiếng ngổ ngáo khi say sỉn hay khi tán tỉnh chọc ghẹo gái địa phương. Việc  quân đội trú đóng ở trong các ngôi làng cũng thường được xử dụng trong các dịp cưỡng ép cộng đồng dân chúng phải đóng  thuế  đã quá hạn trả. Kể từ tháng 10 /1789, chính quyền địa phương đã phản đối việc đặt để các phân đội kỵ binh nói tiếng Đức ở tại Varennes. Những đội quân này đã được di rời đi vào tháng Hai năm sau, nhưng sáu tháng sau đó, tướng Bouillé, viên tư lệnh vùng lại mang vào 600 trăm quân bộ binh. Đội quân này chỉ mới trước đó đã liên quan đến một cuộc đàn áp dã man một phong trào phản đối của những người lính trơn chống lại đám sĩ quan thuộc tầng lớp quý tộc của họ ở tại thành phố Nancy gần đó. Đây là cuộc biểu tình phản đối mà rất nhiều người dân yêu nước đã công khai ủng hộ họ. Sự có mặt của đám lính tàn bạo này ở Varennes đã đưa đến những căng thẳng tột độ. Tình hình chỉ được xoa dịu khi lãnh đạo thị trấn tìm ra được một tu viện bỏ hoang ở sát bìa thị trấn làm chỗ trú quân cho họ.
Đám bộ binh rồi cũng rời đi vào tháng Hai 1791. Tuy nhiên , vào tháng Sáu, tướng Bouillé lại loan báo sẽ gửi khoảng 60 tay kỵ binh nói tiếng Đức đến trú ngụ. Bây giờ thì chúng ta biết rằng hành động này là một phần của kế hoạch di chuyển quân với mục đích bảo vệ cho chuyến đào tẩu của nhà vua, một âm mưu mà Bouillé đã liên quan đến một cách tỉ mỉ. Mặc dù cái phân đội nhỏ bé này cũng trú đóng tại tu viện trên và  tương đối gây ra không nhiều những quan ngại trước mắt đối với cư dân Varennes, nhiều người vẫn quan tâm với nghi ngại ngày càng tăng khi nhìn thấy hàng đoàn xe chở đồ đạc hàng hoá quân sự đi qua phố, và khi nghe những lời đồn đại từ cửa miệng của quân lính suốt cả khu vực. Thực vậy, các viên chức điạ phương ở Meuse đã rất bối rối và quan ngại sâu sắc vể những sự di chuyển đó trong thời bình. Việc đi tới đi lui hết kỵ binh lại đến bộ binh, hôm trước rút đi, hôm sau lại tiến vào, cứ tiến tới rồi rút lui, thay đổi quân sự mà chẳng có gì đáng cần thiết hay hữu dụng để làm gì? Vào ngày 20 tháng Bảy, 40 tay kỵ binh hành quân về phía Tây, được cho là để tiếp nhận một ‘kho tàng’ hay một xe chở lương tiền để phát lương cho quân? Ngày hôm sau, đứa con trai út của Bouillé cùng một viên sĩ quan nữa tới thuê trọ qua đêm tại quán trọ Đại Hoàng Gia ở ngay phía Đông của nhánh sông. Bọn này tuyên bố là đến để chuẩn bị cho một cuộc viếng thăm đột xuất sắp tới của chính viên tướng.
Những lo sợ của  dân địa phương lan toả ra sao không rõ ràng lắm. Chỉ biết là ngay từ sáng sớm ngày 21 tháng Sáu, anh chàng Sauce đã tự viết một bức thư chào mừng đám kỵ binh mới tới như một dấu hiệu thân thiện của thị trấn. Anh cũng có nói chuyện với viên sĩ quan chỉ huy và được bảo đảm là chẳng có chiến tranh gì đâu. Tuy nhiên, những người khác trong thị trấn, đặc biệt các thành viên của hội câu lạc bộ Jacobins lại chẳng tin điều đó.  Cái thành kiến chống lại giới quý tộc ngày càng tăng làm cho viên chỉ huy quý tộc  trở thành đối tượng của sự nghi ngờ. Có một thành viên vô danh của câu lạc bộ đã viết  một loạt thư gửi về ban quản trị của hội ở Bar-le Duc ngay trong buổi chiều của cuộc khủng hoảng 21 tháng Sáu. Anh ta kể rõ chi tiết tất cả các hoạt động quân sự rất lạ thường ở một thời điểm hoà bình ở trong thị trấn. Anh ta cũng không quên tả lại chuyến viếng thăm của Franςois de Gogurlat, một kẻ âm mưu chính khác trong việc sắp xếp kế hoạch đào tẩu của nhà vua và là người đã tra vấn Sauce về các vệ binh và quan điểm chính trị của các vị lãnh đạo thị trấn Varennes. Bằng một lối giải thích rất đáng nghi ngờ, anh ta còn dự đoán rằng rất có thể “kho tàng bí mật” mà đám quân lính đang bàn tán đó chính là đức vua, có lẽ  sắp bị bắt cóc khỏi Paris bởi một lũ xấu nào đó.
Cũng rất có thể là George và các bạn của anh ta  ở quán Golden Arm đang thảo luận về đủ loại các tin đồn này cộng với nỗi lo ngại về chuyện quan quân thay đổi ngay  trong buổi tối Drouet xuất hiện.  Nhưng dù trong trường hợp nào, cái thị trấn Varennes bé nhỏ tầm thường  ở gần biên giới Đông Bắc nước Pháp cũng đã chuẩn bị rất tốt về mọi mặt từ, quân sự, hành chính đến cả tâm lý để sẵn sàng cho cuộc khủng hoảng ngày 21 tháng Sáu hơn là những kẻ âm mưu tổ chức cuộc đào tẩu của nhà vua tưởng tượng.

Quân đội và nhân dân


Vào sáng sớm ngày 22 tháng Sáu, ngay cả khi các nhân sĩ trong thị trấn còn đang thảo luận việc phải làm gì với nhà vua vừa mới tới giữa đêm thì cả thị trấn đã bắt đầu xôn xao náo động. Thật ra diễn biến chính xác trong đêm ra sao vẫn rất mù mờ. Ai nấy đều cảm thấy  nhầm lẫn; cả hàng đống biến cố đột ngột xảy ra cùng lúc.  Nhưng giờ không phải là lúc để ghi chép lại, và việc thuật lại những sự kiện trong đêm hôm đó phải căn cứ theo ký ức của những cá nhân hiện diện trong đêm, đôi khi không ăn khớp với nhau vì được viết lại sau nhiều ngày, nhiều tháng hay thậm chí nhiều năm sau đó. Trong bất cứ trường hợp nào, ngay sau khi 2 đứa con của Sauce chạy đi khắp phố  báo động : “cháy, cháy!”, có ai đó đã tức thì đến kéo chuông nhà thờ ở bên kia sông. Tiếng chuông nhà thờ có một ngôn ngữ riêng của nó tuỳ theo âm sắc và nhịp điệu, khoan thai để kêu gọi giáo dân đến thánh lễ, hay loan báo đám cưới hoặc đám ma. Nhưng khi tiếng chuông dồn dập và lập đi lập lại nhiều lần thì đó là tiếng chuông báo động cho một sự nguy hiểm và khẩn cấp. Lúc đó mọi người sẽ túa ra đường và hỏi chuyện gì đang xảy ra. Chỉ trong ít phút, người chỉ huy vệ binh cũng cho đánh thức các tay trống để dóng lên tiếng trống tụ  họp quân. Thế rồi dân quân  khoác quân phục vào và nhảy bổ  tới với vũ khí  trên tay hay chạy đến thị sảnh ở  trung tâm thị xã  để nhận vũ khí.
Khi biết được sự có mặt của nhà vua, họ vừa tò mò vừa sửng sốt lại vừa lo lắng. Thình lình, ý nghĩa của việc di chuyển quân và câu chuyện bí mật về cái kho tàng gì đó sắp đến trở nên rõ ràng. Những người chưa từng có kinh nghiệm về trò ảo thuật của sự có mặt bất ngờ của hoàng gia bèn nhanh chóng cảm thấy nguy hiểm vì sự trả thù lên những người đã cả gan ngăn chặn bước đào tẩu của nhà vua, và điều cận kề nhất có thể xảy ra là sự tấn công của đám  quân lính đang trú đóng trong vùng. May mắn, mối nguy hiểm gần kề nhất là đám kỵ binh người Đức ở kế bên thị trấn đã không tỏ vẻ  gì hăm doạ. Hầu hết bọn chúng dường như vẫn ngủ nghỉ hay  vùi đầu vào ly rượu trong quán và theo dõi một cách vô hại.  Thế nhưng có người thấy viên chỉ huy bọn họ lên ngựa tiến về bờ sông và  phi ngược hướng Bắc. Lát sau hắn quay lại với  anh chàng Bouillé trẻ đi theo. Mọi người hiểu ra rằng ông tướng Bouillé đã được thông tin và họ tin rằng, chẳng bao lâu nữa, đoàn quân của ông ta sẽ ở ngay sau lưng họ. Các viên chỉ huy đội dân quân bèn bố trí các phân đội  vệ binh đến trấn những  lối vào then chốt của thị trấn để đặt rào cản hay chướng ngại vật bằng các toa xe hay bất cứ gì tìm được theo cách bố trí của họ. Họ cũng không quên  gửi ngay phát thư đi cầu viện những làng mạc chung quanh.
Nỗi lo sợ nhất của họ  dường như trở nên cụ thể vào khoảng một giờ sáng, khi một nhóm chừng 40 tên  kỵ binh, sau lại có thêm một đám nữa, xuất hiện ở  cửa vào mặt Nam của thị trấn. Các tay chỉ huy của chúng, mà cư dân Varennes sau đó biết được là Goguelat và quận công Choiseul, đã nói chuyện với đám kỵ binh bằng tiếng Đức, và đám này đáp lại với vẻ ngạc nhiên. Sau đó bọn chúng bèn tấn công phá rào cản và dùng sống kiếm đẩy dạt đám vệ binh ra tiến vào trung tâm thị trấn và cuối cùng dừng lại ở vị trí bày binh bố trận ngay trước cửa nhà của Sauce. Những giây phút kế tiếp thật căng thẳng và  đầy bất trắc, gây nên một nỗi lo lắng đầy kinh hoàng cho mọi người. Đám kỵ binh  trên lưng ngựa với đầy đủ nón sắt áo giáp, súng đạn và kiếm trận trên tay đã  cố tình hăm doạ dân chúng. Anh chàng Sauce bước ra khỏi nhà và phát biểu một bài diễn văn đầy lòng yêu nước trước cửa tiệm của anh và anh phản đối rằng: ” Đều là những công dân có giá trị  và những quân nhân quá can đảm, chúng ta có cần tham gia vào một cuộc tác chiến chỉ dẫn tới đổ máu…?”. Tuy nhiên, chẳng ai biết bọn lính đó hiểu biết tiếng Pháp cỡ nào và sự đối đầu giữa vê binh và đám lính tiếp tục. Cuối cùng, một người, rồi thêm hai viên sĩ quan nữa yêu cầu được nói chuyện với nhà vua. Khi Goguelat trở lại sau đó và dường như chuẩn bị một cuộc tấn công, đám vệ binh cũng chuẩn bị chống trả. Họ mang đến 4 khẩu đại bác đặt ngay ở trên và dưới con đường bọn kỵ binh đang bố trí. Đồng thời họ phóng thanh yêu cầu  nhà cửa 2 bên đường mở cửa ra để mọi người đang còn trên đường chạy vào ẩn núp, chừa lại bọn lính đơn độc trong vùng lửa đạn. Nhận ra sự nguy hiểm, Goguelat tự mình tấn công nghĩa quân, ra lệnh cho họ quay mũi mấy khẩu đại bác ra ngoài. Tuy nhiên, một tay dân quân trong làng đã rút súng bắn ông ta rơi khỏi lưng ngựa. Viên bá tước ôm vết thương chạy vào quán trọ Golden Arm. Kẻ bắn ông cũng đi theo xin lỗi rối rít. Những người khác chạy đi làm việc với đám kỵ binh không còn vị chỉ huy. Sau nhiều giây phút vô cùng căng thẳng, đồng thời có blếu tặng cho uống rượu miễn phí,  họ đã thuyết phục được đám kỵ binh xuống ngựa và sau đó tỏ ra thân thiện với dân làng và thề sẽ nghe theo các viên chỉ huy của dân quân địa phương.
Đối với cư dân Varennes, sự xuất hiện của Goguelat cùng đám kỵ binh đánh dấu một khúc quanh mới ở nhiều khía cạnh. Qua sự kiện hăm doạ bằng nột hành vi bạo động này, cư dân càng tin tưởng hơn rằng việc đào tẩu của nhà vua không chỉ đơn thuần là một nỗ lực của hoàng gia đi lánh nạn cho nhà vua và gia đình, mà có cả một âm mưu to lớn và nguy hiểm có dính líu đến bọn lính ngoại và có lẽ cả quân đội nước ngoài. Hơn thế nữa, hiệu quả việc đối phó với khủng hoảng của Sauce, người lãnh đạo thị trấn thật vô cùng mạnh mẽ. Chỉ mới ít ngày trước, vị bá tước đã thu hút anh bằng những phát biểu mạnh mẽ về lòng ái quốc trong một báo cáo tổng quát về thị trấn và về vệ binh quốc gia, ngay cả khi những công dân khác vẫn nghi ngờ tối đa. Bây giờ, anh chàng chủ tiệm tạp hoá đã ngộ ra rằng anh đã bị một tay quý tộc thao túng, coi anh như một thẳng ngu ngốc. Sau này anh viết lại: “ Dưới tấm mạng che lòng ái quốc, Goguelat đã giấu tôi một sự phản quốc bỉ ổi. Tôi chỉ có thể nói lên một sự căm phẫn sâu xa nhất.” Cái kinh nghiệm đắng cay này có thể đã trở nên then chốt cho việc Sauce thay đổi thái độ đối với nhà vua.
Dù vậy, toán dân quân tiếp viện không lâu sau đó đã đến từ khắp nơi. Chừng hơn nửa tiếng sau nửa đêm, có ai đó đã gửi đi ba bốn viên cảnh sát đến hết làng này đến làng khác vừa phi ngựa đến vừa chạy vừa hét lên “ cầm vũ khí lên, cầm vũ khí lên”. Ngay sau khi Sauce gửi điện văn đến Verdun, trung tâm quân sự lớn nhất trong vùng để xin trợ giúp rằng: “ Xin mau mau đưa quân viện và đại bác đến giúp chúng tôi. Nhà vua và hoàng gia đang có mặt ở đây.”  Ngay trước khi những người chuyển tin tới, các làng lân cận đã nghe thấy tiếng chuông nhà thờ vang lên dồn dập và họ đã túa ra đường, với một mệnh lệnh ngắn ngủi, đám dân quân đã giương cờ gióng trống tiến về Varennes. Tại khu phố thị Montnlancville nơi chỉ cách chừng 2 dặm phía Bắc, thông địệp đã tới lúc một giờ sáng. Mặc dù có sự lẫn lộn chưa biết rõ ràng chuyện gì khẩn cấp đến thế, người phát tin đã nhanh chóng đi sang các làng mạc khác để báo động trước khi thông điệp được thông hiểu. Cánh đàn ông đã cho lệnh trang bị vũ khí và chừng hơn trăm người đã chạy bộ tới Varrenes lúc một giờ rưỡi. Khi đã hiểu rõ chuyện ngọn ngành, họ bèn vào vị trí sẵn sàng chiến đấu. Cũng giống như bao lần huy động trước, cánh đàn bà và con nít theo chân họ sau đó, đẩy theo các toa xe chứa thực phẩm và đồ tiếp tế.
Montfaucon, một làng ở dãy đồi xa xa thuộc vùng Argonne nhận được tin tức khoảng ba giờ sáng. Dân làng sau này nhớ lại rằng mới buổi chiều tối, mọi sự vẫn còn yên lặng ra sao, và họ đã sững sờ ra sao khi nhận một thông điệp “không bao giờ ngờ tới và khó có thể tin được” như thế. Thế nhưng họ cũng ngay lập tức quơ bất thứ vũ khí nào có thể có được và đi đến Varennes vào lúc rạng sáng. Tin tức tới được Verdun vào khoảng 5 giờ 15 phút sáng. Lãnh đạo khu vực truyền tin lại khắp phố trước khi  phái đi 400 vê binh cùng binh sĩ chinh quy Pháp. Triacourt, cách 20 dặm phía Nam, nhận được tin cùng khoảng thời gian. Autry ở phía Tây của vùng Argonne biết tin khoảng chừng một giờ sau đó. Quả thực, ngay khi nhận được tin tức khẩn cấp, nhiều cộng đồng đã kéo chuông báo động đồng thời gửi thêm tin tức cho bạn bè cùng các gia đình trong các thôn xóm hẻo lánh hay các nông trại làm thành một phản ứng dây chuyền giúp cho tin tức truyền đi với một tốc độ nhanh chóng đến kinh ngạc. Khi trời sáng, dân quân đã đến Varenes ở khắp nơi, từ Cuisy, Septsangs  đến Dannevoux và Sivry bên bờ sông Meuse và Damvillers quá khỏi Meuse. Cũng trong buổi sáng hôm đó, tin tức truyền miệng đã lan tới Saint Dizier ờ cách 45 dặm phía Nam và  cả vùng Chalons-sur-Marne và Reims, ở cách hơn 70 dặm phía Tây. Đến buổi chiều thì Metz và Thionville ở  cùng khoảng cách về phiá Đông cũng nhận được tin. Tất cả nhanh chóng gửi đến Varennes những đội dân quân  có trang bị.
Ngay buổi sáng ngày 22 tháng Sáu đã có hàng ngàn người tụ họp tại cái thị trấn nhỏ bé này trong vùng Argonne: vệ binh với súng đạn, nông dân với đủ loại vũ khí tự kiếm được và đàn bà chuẩn bị đủ mọi thực phẩm và bánh mì cho cánh đàn ông. Mặc dù cũng có một ít tên vô lại nhân cơ hội lẻn vào nhà cửa cư dân ăn trộm đồ ăn thức uống, hầu hết mọi người khác đều giữ gìn kỷ luật tốt  và sẵn sàng cho một cuộc chiến đấu mà họ chắc sắp xảy ra. Có một bô lão quý tộc ái quốc nguyên là vị cựu sĩ quan trong quân đội hoàng gia cũng có mặt tại hiện trường góp sức tổ chức một hệ thống phòng thủ. Các rào cản được đặt ra khắp nơi chung quanh chu vi của thị trấn và cây cầu gỗ nằm giữa thị trấn bị tháo gỡ một phần. Ngay sau khi trời rạng sáng, có thêm 65 kỵ binh từ phương Bắc đến, nhưng nhân dân lúc này đã sẵn sàng với súng đạn lên nòng và đám kỵ binh bị buộc đứng chờ bên ngoài thị trấn. Chỉ có đại úy Deslon, viên sĩ quam chỉ huy của họ được phép vào nói chuyện với nhà vua.

Vận mạng của đất nước


Trong lúc đó, trong một phiên họp khẩn cấp có cả vài quý tộc và thẩm phán của hội đồng xét xử địa phương, hội đồng thành phố thật phân vân không biết xử trí ra sao với nhà vua. Một đám ít người vốn chỉ là chủ tiệm, thương gia hay khá nhất là những luật sư miệt vườn, tự nhiên thấy họ đang phải gánh một trách nhiệm nặng nề của một toà án tối cao với vận mạng của cả nước nằm trong tay họ. Sau khi đã tái triệu tập vào lúc 2 giờ sáng, họ phái anh chủ tiệm hớt tóc Mangin  như một sứ giả đi đến báo cáo cho Hội Đồnng Quốc Gia  sự có mặt của nhà vua  để yêu cầu cố vấn. Nhưng họ thừa hiểu rằng phải mất nhiều ngày trước khi họ có được câu trả lời từ Paris và họ thì không thể chần chờ không quyết định mãi. Lúc đầu họ hứa giúp đỡ hoàng gia tiếp tục hành trình của họ. Thế nhưng  việc có mặt của đám kỵ binh và cái phong cách hăm doạ hung hãn của đám chỉ huy đòi đưa nhà vua đi bằng vũ lực đã làm giảm đi đáng kể tinh thần cộng tác và thiện chí của họ, đặc biệt khi họ nhìn thấy Goguelat trong đám chỉ huy , họ nhận ra ngay cái tiểu xảo và trò lường gạt của y.
Hơn nữa, qua phản xạ tự nhiên của họ và qua lời khuyên nhủ kiên quyết của cánh Jacoins cùng những nhà ái quốc có mặt trong thị trấn, các thành viên hội đồng thị trấn đã đi đến một kết luận về cái chuyện quái lạ  của sự trốn chạy của  nhà vua. Vua Louis nói với họ rằng ông không bỏ rơi vương quốc và rằng ông sẽ đến ở tại Monmédy nhưng vẫn thực sự nắm được tình hình.  Họ rất ngạc nhiên với lời kể của nhà vua về tình hình Paris mà nó không giống như những gì họ hiểu biết qua việc thu thập tin tức từ báo chí và từ các tường trình của viên thị trưởng của họ. Hầu hết họ đã nghe đến những báo cáo về những tay cố vấn  không đáng tin cậy của nhà vua và ông thì dễ dàng bị bọn họ thao túng tới bất cứ ý định nào của nhà vua. Hậu quả của thị trấn này của họ sẽ ra sao nếu như sau đó có xác định là nhà vua đã bị hiểu lầm? Liệu họ có bị tố cáo tội phản quốc như lời của Drouet nói không? Ngay cả khi nhà vua không vượt qua biên giới, thì sự vắng mặt của nhà vua ở Paris có ý nghĩa gì cho sự tồn tại của Hội Đồng Quốc Gia và bản tân hiến pháp mà họ ủng hộ nhiệt tình cũng như ủng hộ nhà vua?  Cái viễn ảnh của một cuộc nội chiến và có lẽ một sự xâm lược của ngoại quốc dường như quá rõ, đặc biệt đối với một thị trấn như Varennes, nơi luôn bị ám ảnh vì địa hình gần sát biên giới.
Họ đã đấu tranh tư tưởng với những câu hỏi trên trong bao lâu, khổ tâm với sự phân vân về lòng trung thành bị phân tán như thế nào, chúng ta không thực sự biết. Tuy nhiên, một lúc nào đó, có lẽ vào lúc Sauce gửi lời  kêu gọi yểm trợ đến Verdun, họ rõ ràng đã từ bỏ ý định hộ tống hoàng gia đến Monmédy và tìm cách câu giờ để chờ những lực lượng hữu hiệu đến tiếp viện để phòng thủ thị trấn. Dù sao, trong suốt đêm, Sauce và một bộ phận của hội đồng thấy họ phải trở lại gặp nhà vua và giải thích về sự thay đổi ý định của họ. Thật là một cảnh tượng hết sức lạ lùng.  Một tay chủ tiệm chạp phô, một thợ thuộc da và một thẩm phán miệt vườn lại dám thông báo cho ông vua nước Pháp rằng họ phải từ chối theo lệnh của ông. Họ không thể để nhà vua tiếp tục hành trình. Thật khó xử khi phải diễn tả ý định  đó trước mặt hoàng gia, họ nói với vua  về cái cảm giác dịu dàng nhưng lo âu rằng, giống như  là những thành viên trong một gia đình  vĩ đại vừa mới tìm lại được người cha thân yêu, nhưng giờ họ đang lo sợ sẽ lại  có thể mất người cha ấy lần nữa. Họ bảo đảm với vua rằng thần dân rất ngưỡng mộ nhà vua, rằng  sức mạnh của ngai vàng của vua luôn ở trong tim và tên ngài luôn ở trên môi, nhưng nơi cư ngụ chính đáng của vua là ở Paris, và mặc dù họ sống trong vùng thôn dã, họ vẫn khẩn cầu nhà vua hãy quay về nơi chốn của ngài.”  Họ cũng thêm rằng họ e là nếu vua vẫn cứ ra đi thì sẽ gây ra những biến cố đổ máu  và  họ lên án điều đó vì sự an nguy của đất nước”  và cảnh báo rằng  sự cứu tế của nhà nước phụ thuộc vào sự hoàn thành hiến pháp, mà hiến pháp lại đang cần sự trở về  của nhà vua để  được phê duyệt. Những quyết định này của hội đồng thị trấn đã làm gảm nhẹ sự cần thiết của nó với lời yêu cầu khẩn thiết của đám đông bên ngoài gồm đủ mọi thành phần  nam phụ lão ấu đang tập trung trước cửa nhà Sauce hô lớn: “vạn tuế quốc vương, vạn tuế  tổ quốc , xin người trở về Paris.”
Lúc đầu, Vua và hoàng hậu dường như không hiểu, không muốn lắng nghe và vẫn yêu cầu chuẩn bị người ngựa để họ tiếp tục hành trình. Hoàng hậu Marie-Antoinette thậm chí còn cho gọi bà vợ của Sauce vào gây ảnh hưởng lên chồng bà, và hứa hẹn rằng cả thị trấn sẽ hưởng lợi lớn nếu hỗ trợ nhà vua. Theo như cư dân thị trấn nhớ lại, bà Sauce đáp lại rằng bà thực sự yêu mến hoàng gia, bà cũng yêu chồng, nhưng anh ấy có trách nhiệm của anh, và bà  lo sợ rằng chồng bà sẽ bị trừng phạt nếu để cho đoàn của vua vượt qua trạm.  Một câu chuyện khác, có thể là thật cũng có thể ngụy tạo rằng vua Louis đã kêu gọi lão già Géraudel, một người đốn củi và cũng là vệ binh rằng khi  nhà vua tái  thề hứa là sẽ không có chuyện nhà vua bỏ nước ra đi mà chỉ mong làm điều tốt cho đất nước mà thôi. Géraudel đã đáp lại rằng: “Tâu hoàng thượng, thần dân không dám chắc thần dân có thể tin ngài được.” Hai năm Cách Mạng đã thay đổi mọi thứ.

Khi tay đại úy Deslon đến trước cửa nhà Sauce lúc 5 giờ sáng, anh ta lập túc hỏi nhà vua anh ta phải làm gì. Nhưng lúc này, vua Louis dường như đã đầu hàng mặc cho số mệnh. Vua nói: “Ta chẳng có mệnh lệnh nào cho nhà ngươi cả. Giờ ta là một tù nhân.” Deslon bèn cố nói chuyện với hoàng hậu và một trong những viên sĩ quan khác bằng tiếng Đức, ngôn ngữ mẹ đẻ của hoàng hậu, một lần nữa nêu lên một hành động quân sự để giải vây cho hoàng gia. Thế nhưng những cư dân đang ở trong phòng lập tức la lớn: “Không được nói tiếng Đức ở đây” và rồi Deslon trở ra ngoài thị trấn với toán quân của hắn chờ đợi một lệnh lạc mà nó không bao giờ đến. Dù thế nào đi nữa thì tình hình cũng hoàn toàn biến đổi trong  khoảng một giờ sau đó, khi hai đại diện được Hội Đồng Quốc Gia và  vị tướng Lafayette phái đến hôm trước đã tới được Varennes. Đó là Bayon, một sĩ quan trong đội vệ binh quốc gia ở tại Paris và Romeuf, một trong những người phụ tá của viên tướng, hai người đang làm nhiệm vụ đuổi theo nhà vua và hoàng gia mà họ vẫn chưa chắc chắn là hoàng gia đã tự ý  đi trốn hay bị bắt cóc. Mệnh lệnh của cả hai đều chính thức chỉ thị tới tất cả sĩ quan và thành viên của vệ binh quốc gia hay trong hàng ngũ quân đội. Một khi đại diện thành công trong việc bắt kịp hoàng gia, các sĩ quan sẽ được giữ lại và dùng mọi biện pháp cần thiết để ngăn chặn việc bắt cóc hay để ngăn cản hoàng gia tiếp tục hành trình, và rồi báo cáo về cơ quan lập pháp ngay tức thì. Đối diện với hai mệnh lệnh trái ngược từ hai đại diện thẩm quyền trung ương của nhà nước cách Mạng, một là ý nguyện của nhà vua, một là ý định của Hội Đồng Quốc Gia, người dân thị trấn không do dự ngả theo phe hội đồng. Hai đại diện leo lên tầng hai trong nhà Sauce và  đưa sắc lịnh đó cho vua và hoàng hậu. Marie-Antoinette tỏ ra giận dữ và khinh bỉ: “Thật là vô lễ phạm thượng!” Và bà quăng sắc lệnh xuống sàn. Vua Louis thì tỏ vẻ thờ ơ nhưng đầy vẻ buồn thảm chỉ nói: “ Nước Pháp không còn vua nữa.”
Thực ra, Hội Đồng Cách Mạng chỉ khẳng định một điều là hoàng gia phải bị chặn lại. Thế nhưng cư dân Varennes không hề nghi ngờ về việc hoàng gia phải được đưa về Paris ngay tức khắc. Ngoài đòi hỏi theo đúng hiến pháp, nhà vua và Hội Đồng cũng cần giữ sự gần gũi thân mật, nên mọi người rất lo lắng về tình hình quân sự địa phương. Họ vẫn đang chờ đợi một cuộc tấn công từ ông tướng Bouillé và họ chỉ cầu mong là thị trấn của họ sẽ được để yên nếu như nhà vua được chuyển đi nơi khác. Vì vậy vào lúc 7.30 sáng khi mặt trời đã lên cao và thời tiết bắt đầu nóng bức, cả hai phía hội đồng  thị trấn và phía hoàng gia đều mệt nhoài vì một đêm mất ngủ, 2 cỗ xe ngựa quay đầu và lại chui qua  vòm cổng chào của thị trấn, quay ngược lại và ra khỏi thị trấn. Được hộ tống bởi hàng ngàn vệ binh quốc gia, nhà vua và cả hoàng gia  bắt đầu một hành trình dài trở lại Paris.

               
Cái đêm nhà vua bất ngờ xuất hiện trong một thị xã nhỏ bé ở vùng Đông Bắc nước Pháp có thể  là một trong những giây phút đầy kịch tính và cảm động nhất trong toàn bộ cuộc Cách Mạng. Đối với cư dân thị trấn, trải nghiệm trong đêm đó không thể nào quên và trong một vài trường hợp, nó đã thay đổi nguyên vẹn đời sống của họ. Drouet bỗng nhiên thấy mình được bầu chọn vào Nghị Hội Toàn Quốc, phần lớn nhờ vào hành động của anh trong đêm đó. Sauce bị những kẻ trung thành cuồng tin với hoàng gia theo dõi trong nhiều năm trời vì họ cho rằng anh là hiện thân của tội ác.  Vợ anh có lẽ té ngã chết khi bà cố  ẩn núp dưới một cái giếng khi một toán quân ngoại xâm tiến vào năm 1792. Quả thực, toàn thị trấn thỉnh thoảng đã bị nhiều nhóm phản cách mạng hăm doạ huỷ diệt. “Varennes, thị trấn thảm sầu, một nhà tiên tri về ngày tận thế viết, đống hoang tàn đổ nát của ngươi chẳng bao lâu nữa sẽ bị cày xới nát trên mặt đất.” Ngược lại, các nhà ái quốc từ khắp nơi trên đất Pháp đã gửi ngập tràn thị trấn với những bức thư ca tụng biết ơn. Mộ món tiền khổng lồ gần 200,000 Phật Lăng từ Hội Đồng Quốc Gia ban thưởng cho thị trấn được chia cho công dân địa phương. Các đồ vật chạm trổ, cờ thêu và chén dĩa vẽ tay được làm để chào mừng thị trấn và cư dân với những hàng chữ : “Tổ Quốc tri ân” và nhà nước cũng dựng lên một tháp đài tưởng niệm ở ngay tại khu vực quán Golden Arm nơi mà vệ binh quốc gia đã chặn đứng hành trình đào tẩu của hoàng gia.  Các văn sĩ, sử gia có những cuộc hành hương đến viếng cái lầu 2 trong căn hộ của gia đình Sauce trong suốt thế kỷ 19 mãi tới khi cả trung tâm thị trấn bị toán quân xâm lươc Đức phá huỷ vào tháng Tám 1914 và  bốn năm sau lại bị quân Mỹ bắn phá thêm một lần nữa  trong trận chiến Argonne.
Ngoài những hậu quả xảy đến cho cư dân Varennes, biến cố đêm đó cũng chúng tỏ một thay đổi hoàn toàn trong lịch sử của Cách Mạng và của chế độ quân chủ Pháp với một tác động lớn lao và tức khắc lên Hội Đồng Quốc Gia, lên toàn thể nước Pháp và có lẽ toàn thể Âu Châu. Để đi sâu vào trong bối cảnh rộng lớn hơn của biến cố đào tẩu này, tuần tự tiến trình ra sao, ảnh hưởng tới cuộc sống của đủ loại các nhóm chính trị và xã hội trong suốt vương quốc như thế nào sẽ được đề cập trong những chương kế tiếp.