Khi nhà vua chạy trốn - chương 3


Chương 3: Hành trình chạy trốn của hoàng gia


Thách thức của hoàng gia vào ngày cuối cùng trước khi chạy trốn thật rõ ràng và tỉnh táo: làm sao để đem đi toàn bộ gia đình thoát ra khỏi cung điện có trên  hai ngàn nhân lực  bao gồm  lính phòng vệ, gia nhân trong cung và các viên chức chính quyền đang làm việc và sống chung quanh nhà vua và hoàng hậu. Nhiệm vụ càng trở nên khó khăn hơn với những tin đồn đãi rằng đang có một kế hoạch đào tẩu như vậy đã loan truyền khắp Paris. Sau khi có sự tố giác của một tỳ nữ của hoàng hậu, lính phòng vệ đã được bổ xung để thiết lập canh gác cả trong lẫn ngoài Tuileries. Quả nhiên, với sự nghi ngờ lan toả, điều thật quan trọng bây giờ là hoàng gia phải duy trì được toàn bộ kế hoạch đánh lừa cho đến những giây phút cuối. Vì thế, hoàng hậu phải thận trọng trong sự duy trì mọi công việc như mọi ngày bình thường. Bà đi dự thánh lễ, rồi đi làm tóc. Sau đó bà đưa các con và tỳ nữ đi  dạo chơi một vòng qua dinh thự Tivoli và dùng bữa tối với gia đình gồm cả các anh chị em của nhà vua trước khi trở về phòng ngủ. Dù vậy, cô công chúa 12 tuổi con gái bà có cảm giác bố mẹ cô đang rất căng thẳng. Cô càng bối rối hơn khi tất cả những người hầu của cô, ngoại trừ cô bảo mẫu chính là bà Brunier, đều được cho nghỉ phép với lý do cô bị bệnh.
Thực ra, hoàng gia đang rất bận tâm trước vô số sự xếp đặt cuối cùng phải làm xong trước khi kế hoạch trốn chạy được xúc tiến. Một trong những mối quan tâm nặng nề nhất là việc chỉ dẫn tóm lược cho ba người lính hiện dịch sẽ đi hộ tống  hành trình, nhận lãnh những chi tiết thực tiễn và cung cấp một số biện pháp phòng vệ có giới hạn. Để thực thi nhiệm vụ này, bá tước d’Agoult, viên sĩ quan từng chỉ huy toán bảo vệ hoàng gia nay đã giải tán đã tuyển ba tay thuộc hạ giỏi nhất của ông ta: Franҫois-Florent de Valory, Franҫois-Melchoir de Moustier và Jean-Franҫois Malden là những quý tộc vùng tỉnh lỵ ít được biết đến đã từng phục vụ trong cùng một đại đội trong đoàn phòng vệ hoàng gia gần 20 năm. Cả ba đã chứng kiến cảnh đội quân của họ bị đám đông Paris nhục mạ trong những ngày tháng  Mười rối ren, và kể từ đó, họ thường lui tới với đám quý tộc tại Paris đã chạy tới bảo vệ vua vào ngày 28 tháng Hai, cho dù chính họ tuyên bố  không có tham gia vào đó. Cả ba thề hứa sẽ phục tùng nhà vua và sẽ giữ lòng trung thành của họ với hoàng gia ngay cả khi bị tra khảo gắt gao nhất bởi Cách Mạng nếu như bị bắt giữ. Valory thể hứa:  sẽ tận lực tận hiến đời mình cho đức vua. “Tôi sẽ không bao giờ đặt nghi vấn với lệnh của ngài. Tôi thề trung thành với ngài, tuân lệnh ngài với sự tôn kính và mến yêu.” Đầu tiên, vua Louis cho gọi Moustier vào ngày 17 tháng Sáu và bảo hắn ta nguỵ trang thành một nhân viên chuyển thư tư nhân và kiếm cho anh ta và 2 người kia áo choàng ngắn, quần da  đi ngựa chẽn và mũ rộng vành. Trước bữa ăn tối ngay trong đêm trốn chạy, ba người được bí mật dẫn vào phòng của hoàng gia từ một hành lang phía sau điện Louvre.Tại đây, nhà vua chỉ thị cho họ từng chi tiết theo kế hoạch mà Fersen và Bouillé đã soạn thảo nhiều tháng trước đó. Cả ba luôn luôn tuyên bố là họ chẳng biết gì về cuộc vượt thoát trước đêm đó và thật ra chẳng có lý do gì để không tin họ cả.
Cùng lúc đó, Fersen cũng làm việc  không hở tay như một người điều khiển giàn nhạc hoà tấu hỗn hợp  để giàn xếp người, ngựa và xe đúng vận hành. Trong ngày 20 tháng Sáu, anh ta đến ngân hàng của anh gặp viên đại sứ Thuỵ Điển. Anh ta bí mật ghé qua điện Tuileries  để lấy thêm hành lý cho chuyến đi và  chứng kiến tận mắt  việc mua bán cuối cùng các vật dụng dùng cho xe  như ngựa, yên,  roi đánh xe và những vận hành ráp nối chót của đủ loại  thân xe đã được làm từng giai đoạn để tránh bị nghi ngờ. Vào lúc 6 giờ chiều hôm đó, Balthasar Sapel, người  Đức đánh xe ngựa cho Fersen  đã đánh cỗ xe đen lớn dùng cho việc trốn chạy từ cửa tiệm đóng xe đến nhà của một người Anh giàu có trên đường Rue de Clichy. Tới 8 giờ tối, chiếc xe độc mã hai bánh dùng để chở 2 tỳ nữ quản gia được mang đến đậu ngay bên kia bờ sông Seine đối diện cung điện. Cùng lúc đó, một chiếc xe ngựa cho thuê được bỏ lại trong khu vườn của Tuilleries trên điện Champs-Elysées mà lát nữa chính Fersen sẽ xử dụng nó. Đến 9 giờ rưỡi, Valory và Moustier đến gặp Sapel trên đường Rue de Clichy và họ đánh xe lên một con đường quanh co đi qua những vùng ngoại ô phía Tây, rồi ra khỏi bức tường thành bao bọc thành phố đi vào một đại lộ ở phía Bắc đậu ở gần cánh cổng thuế quan Saint-Martin ở phía Đông Bắc Paris. Sau đó Valory cưỡi ngựa ra đi đến ngôi làng Bomdy để chuẩn bị sẵn sàng cho đợt đổi ngựa đầu tiên.
Riêng trong cung điện, giai đoạn đầu của kế hoạch trốn chạy khởi sự vào lúc 3 giờ chiều, ngay khi người được gửi tới hoàng cung với những điện văn cuối cùng của Bouillé, quận công Choiseul rời cung điện để chuẩn bị cho trạm dừng chân tại Somme-Vesle, nơi ông ta sẽ gặp đội kỵ binh tiền trạm bảo vệ  hoàng gia. Cùng đi với ông ta có lẽ là một thành viên tham gia đoàn chạy trốn lạ lùng nhất, Jean-Franςois Autié, thợ làm tóc cho hoàng hậu, được biết dưới cái tên Mr. Léonard.  Vào những ngày cuối, hoàng hậu quyết định rằng bà không thể chịu đựng nổi sự kham khổ trong cuộc sống ở tại Montmédy mà không có người làm tóc riêng của bà. Ngay trước khi Choiseul rời Paris, hoàng hậu cho gọi Léonard vào chầu và hỏi anh ta có sẵn sàng làm theo bất cứ gì bà  yêu cầu không. Và sau khi người thợ làm tóc đáp lại sẵn sàng làm với đầy nhiệt tình (làm sao có thể trả lời khác với hoàng hậu?), bà truyền cho anh chàng ra đi ngay lập tức cùng với Choiseul và  hoàn toàn tuân lệnh ông ta. Không biết là đi đâu, quần áo cũng không kịp thay và ngay cả đến mấy cuộc hẹn với khách hàng cũng không kịp huỷ bỏ, anh chàng thợ làm tóc ba mươi tuổi đã ra đi theo Choiseul đầy kinh ngạc và ngỡ ngàng.

Cuộc chạy trốn lớn lao

Vào khoảng mười giờ rưỡi tối, cuốc trốn chạy của hoàng gia bắt đầu đi vào hành động. Sau bữa ăn tối, vua Louis ôm lấy người em trai là quận công xứ Provence chào tạm biệt người em đi về hướng Bắc tới Bruxells trong một cuộc đào tẩu thành công. Đây cũng là lần cuối cùng trong đời 2 anh em gặp nhau. Sau đó Marie-Antoinette và bà de Tourzel lẻn ra ngoài đi đánh thức 2 đứa con, đồng thời loan báo cho 2 tỳ nữ chuẩn bị cho hành trình  đêm đó.  Kể ra 2 tỳ nữ quản gia, bà Brunier và de Neuville cũng vô cùng kinh ngạc như anh chàng Léonard. Nhưng họ hoàn toàn hiến dâng thân mình cho hoàng gia và đã sẵn sàng đi với họ tới bất cứ chân trời nào. Thực vậy, chính Neuville là người đã nhảy bổ vào sảnh đường tại cung điện Versailles ôm thái tử vào người để bảo vệ trong những ngày khủng khiếp tháng Mười. Họ đã cùng hoàng hậu và bà Tourzel lặng lẽ dẫn đám trẻ đi qua cái cầu thang phía sau xuống tầng trệt rồi lẻn tới khu  phòng ốc tối tăm đã được bỏ trống. 2 tỳ nữ quản gia lập tức thay đổi y phục nguỵ trang cho 2 đứa con của nhà vua trong trang phục của 2 cô con gái trẻ. Sau khi nguỵ trang xong, họ lập tức được tên lính gác Malden dẫn trở lên lầu rồi đi ra ngoài bằng lối ra vào chính của cung điện và băng qua sông Seine đến cỗ xe độc mã đang chờ.  Một người đánh xe thuê đưa họ đi tới ngôi làng Claye, trạm dừng chân thay ngựa thứ hai trong kế hoạch đào tẩu và họ chờ đợi tại đó suốt đêm.
Trở lại căn phòng tối bỏ trống ở tầng trệt trong cung, hoàng hậu lặng lẽ mở khoá cánh cửa bên ngoài của căn phòng bằng một chìa khoá mà bà đã tìm cách có được trong một mưu mẹo mấy tuần lễ trước. Trăng thượng tuần vẫn còn ở thấp dưới chân trời và có lẽ có đám mây che khuất. Hoàng hậu cẩn thận tính toán giờ giấc để thời gian ra đi của họ  tương đương với thời gian  mà một số lượng lớn các công nhân nhân viên làm việc trong cung điện trở về nhà họ. Với một số lượng đông người đi ra mỗi đêm, những tên lính gác bên ngoài dường như không bao giờ chú ý tới người trốn chạy đã được nguỵ trang. Tuy thế, bà Tourzel cũng run rẩy, một tay bồng cậu hoàng tử đang ngủ một tay dắt cô công chúa lớn hơn  băng qua khu sân triều tối om tiến về phía một dãy các cỗ xe ngựa có treo đèn chiếu sáng trên đường ở phía Đông cung điện, nơi mỗi đêm chúng vẫn thường  chờ để đón  rước những người rời khỏi hoàng cung. Chính Fersen ăn mặc như một người đánh xe bình dân đang chờ họ trên một chiếc xe ngựa thuê.  Sau đó họ đánh một vòng ngắn ngủi quanh thành phố cho tới giờ những người còn lại trong gia đình  ra đi thì trở về vị trí cũ vào lúc 11 giờ đêm. Bà Tourzel rất ngạc nhiên trước cung cách bắt chước thợ đánh xe Paris của anh chàng Thuỵ Điển này. Anh ta huýt sáo và còn dám dừng lại trò chuyện hút thuốc với họ một cách tự nhiên. Riêng cô công chúa nhớ lại rằng chưa bao giờ cô thấy thì giờ qua đi chậm như vậy.
Không lâu sau khi Fersen trở lại, Quận chúa Elizabeth em gái vua, người tự hoá trang cho mình và đi ra khỏi phòng qua một cánh cửa bí mật rồi lẻn ra khỏi cung đi đến chiếc xe ngựa mà Fersen đã có mật hiệu cho cô nhận  diện đang chờ. Nhà vua đáng lẽ phải ra đi kế tiếp. Nhưng đến phút chót có tướng Lafayette và ông Bailly thị trưởng Paris bất ngờ đến thăm hoàng cung và nhà vua buộc lòng phải tiếp chuyện họ. Chỉ đến 11 giờ rưỡi khi hai người đã ra về, nhà vua mới giả bộ đi ngủ, cho hầu cận nghỉ việc rồi mới đứng dậy hoá trang và chống gậy cùng Malden đi đến  cỗ xe đang chờ. Với sự điềm tĩnh thường ngày, nhà vua vẫn dừng lại giữa sân triều để cột lại dây giày. Người cuối cùng rời hoàng cung  chính là hoàng hậu. Tình cờ, bà xém chạm trán với Lafayette lúc đó cũng đang rời khỏi hoàng cung. May là ông ta bị choá mắt vì những ánh đèn chung quanh và đầu óc đang bận tâm với những vấn đề khác, viên tướng đã không để ý đến một người đàn bà đơn độc đang bước đi trong bóng tối và sau một vài giây lo lắng, bà cũng bước lên xe.
Giờ đã qua mười hai giờ rưỡi, trễ hơm kế hoạch đã định một giờ. Trong khi cả gia đình chen chúc nhau trong chiếc xe ngựa nhỏ chật hẹp, Fersen đã đánh xe băng ngang thành phố với Malden làm người phụ tá ở phía sau. Chiếc xe di chuyển chậm chạp vì e sợ gây chú ý. Thay vì đi thẳng đến cổng thâu thuế đường Saint-Martin, lúc đầu anh chàng lái xe về phía Tây Bắc dọc theo Rue de Clichy, nơi anh quan sát để chắc là cỗ xe lớn đã rời. Anh ta cũng lo tránh né những vùng ngoại ô Đông Bắc của Paris, nơi có sự nghi ngờ  rất cao và các hoạt động trên đường phố vẫn tiếp tục trong đêm. Cuối cùng khi đến được cổng, anh lại mất mấy phút lo lắng khi phải tìm kiếm Moustier, Sapel và cỗ xe  lớn lúc đó đang đậu trong một vùng tối cách xa hơn anh dự liệu.  Khi đã nhận ra xe, Fersen và hai người lính bảo vệ lập tức chuyển người qua xe lớn, đẩy cỗ xe nhỏ xuống mương và khởi hành đi dọc theo con lộ chính về phía Đông ra khỏi Paris.  Những việc hoãn tới hoãn lui đã làm họ  bị chậm trễ tới 2 tiếng ngoài kế hoạch. Đây là một đêm ngắn nhất trong năm, và đã bắt đầu có dấu hiệu tờ mờ sáng. Fersen hét lên với người đánh xe yêu cầu chạy hết tốc độ: “Lẹ lên, Balthasar! Mau lên! mạnh bạo lên! ngựa phải khoẻ chứ! Cho chúng chạy nhanh lên! Nửa giờ sau, chiếc xe đã tới được trạm dừng chân thay ngựa đầu tiên ở Bondy nơi Valory đang chờ.
Tại đây Fersen giã biệt đoàn người. Anh ta đã làm tròn phận sự của anh theo kế hoạch với sự táo bạo và lòng tự tin trong việc điều hành một cách ngoạn mục việc thoát ra khỏi cung điện Tuilleries và thành phố Paris như  một phép màu. Lúc này kế hoạch của anh là tách riêng ra, đi ngựa lên phía Bắc để vào địa phận Áo Hà Lan rồi sẽ đi dọc theo biên giới để gặp lại đoàn ở vùng Montmédy. “Tạm biệt phu nhân Korff”. Anh chào tạm biệt vị hoàng hậu cải trang một cách ngắn gọn rồi  phi ngựa về phía Le Bourget trong khi  đoàn hoàng gia tiến về phía Đông.


Ở trạm dừng chân thay ngựa kế tiếp tại Claye, đoàn lữ hành đã tập trung đầy đủ sau khi đã sát nhập thêm một chiếc xe nhỏ chở hai hộ khán. Khi mặt trời lên khoảng sau 4 giờ sáng, đoàn lữ hành tiến tới,  băng qua những vùng bình nguyên Ile-de-France và Champagne. Nhìn họ thấy có vẻ không đồng bộ.  Chiếc xe ngựa nhỏ nhoi màu vàng bên cạnh cỗ xe đen to đùng với bộ khung sơn vàng cộng thêm ba chàng vệ sĩ lực lưỡng trong những chiếc áo choàng màu vàng tươi: Valery chễm chệ trên lưng ngựa dẫn đầu, Malden ngồi ngự  phía trước trên chiếc xe bự và cuối cùng, Moustier cưỡi ngựa đi đoạn hậu. Cảnh tượng gây chú ý cho cả đám dân quê và dân tỉnh lỵ ở bất cứ nơi nào họ đi qua.  Có điều chắc chắn, đây là con đường chính nối Paris tới Germany và cũng là đoạn đường mà những kẻ lữ hành giàu sang di chuyển trên những chuyến xe sang trọng không phải là chưa từng có.  Tuy nhiên, khi họ tiến xa hơn về phía Lorraine, người ta quan sát đặc biệt lưu tâm tới ba chàng cảnh vệ. Chắc chắn là Moustier đã chọn đồng phục màu vàng một cách ngẫu nhiên. Tuy nhiên, đối với cư dân địa phương,  chúng dường như rất giống với loại y phục đặc biệt của ông hoàng De Conté, một thủ lãnh di dân  đã đào ngũ của một đạo quân phản cách mạng, đồng thời cũng là một lãnh chúa sở hữu nhiều đất đai tại vùng này của nước Pháp.
Lộ trình được chọn là một trong những xa lộ chính của  vương quốc vừa rộng rãi, thẳng tắp và bảo trì tốt với  hầu hết con đường có những hàng cây trồng dọc hai bên lộ và tới  khoảng nửa lộ trình có một lề đường lót đá, và sau đó được trải sỏi và được nâng cao  hơn cánh đồng. Một số đoạn đường chỉ mới hoàn thành trong năm 1785.

Giống như nhiều kẻ lữ hành giàu có trên những hành trình dài, đoàn lữ hành của vua liên tục thay người ngựa  ở mỗi trạm dừng chân suốt con đường. Valory thường đi khá xa trước những người khác để báo động cho những trạm trung chuyển kế tiếp để họ chuẩn bị ngựa xe sẵn sàng để thay đổi cho đoàn xe sắp đi tới. Tại mỗi trạm, họ cần thay thế từ mười đến mười một con ngựa. 6 con cho chiếc xe lớn, 2 hoặc 3 cho chiếc xe nhỏ và 2 ngựa cưỡi cho Valory và Moustier. Mỗi trạm cũng phải có thêm một hoặc hai người điều khiển xe hoặ  hướng dẫn viên luôn luôn có mặt trên xe đưa đoàn người đến trạm dừng chân kế, sau đó mới trở về vị trí trạm của mình. Louis mang theo một túi tiền vàng để thỉnh thoảng phân phát cho Valory để trả công và tiền thưởng cho những người lái. Họ  di chuyển  trên đường với tốc độ được chừng 9 hay 10 dặm một giờ, mặc dù nếu tính thêm cả 15 tới 20 phút dừng chân tại mỗi trạm trong cả thảy 19 trạm dừng, tốc độ bình quân của hành trình sẽ chỉ chừng 7 dặm một giờ.
Ban ngày trời ấm áp và đoàn xe di chuyển êm ả trên con đướng quê, ngựa kéo được thay đổi đều đặn không chút khó khăn, đoàn lữ hành cũng có cảm giác tự do và sảng khoái. Thời tiết có vẻ nóng và ẩm ướt, nhưng họ không gặp mưa. Có một lúc, khoảng ở gần Etoges, một bánh xe của chiếc xe ngựa lớn đụng phải cột mốc đá bên đường làm 4 con ngựa bổ nhào làm đứt dây cương. Một khoảng thời gian 30 tới 45 phút  sửa chữa lại càng làm chậm trễ thêm hành trình theo kế hoạch dự trù.  Tuy nhiên, hành trình vẫn tiếp tục không trở ngại.  Phần nguy hiểm nhất của hành trình dường như  đã được bỏ lại sau lưng họ. Bây giờ, đơn giản chỉ là khi nào thì tới được Somme-Vesle, nơi mà họ sẽ được đội kỵ binh của Choisel săn sóc và bảo vệ.
Ngồi trong xe, đoàn người dùng tay để ăn bữa ăn sáng ngoài trời hệt như “bọn săn bắn hay những thường dân du hành”, theo lối diễn tả của Moustier. Họ kể cho nhau nghe kinh nghiệm về cách trốn thoát ra khỏi cung điện Tuilleries. Hoàng hậu bình luận  về việc  tướng Lafayette chắc phải bối rối  và bực tức lắm khi phát giác ra sự trốn thoát của hoàng gia. Nhà vua lôi tấm bản đồ  và  kế hoạch hành trình ra đi đã soạn trước của ông ra và cho biết những làng mạc, thị trấn và trạm thay ngựa khi họ đi ngang qua.  Đây chỉ là chuyến đi thứ  3 của ông ra khỏi khu vực Paris và là lần đầu kể từ sau hành trỉnh đầy vinh quang tới Cherbourg năm 1786 và ông  bỏ hết nhiệt tình vào việc nghiên cứu địa dư và danh sách một cách chi tiết. Hoàng hậu nhận lãnh trách nhiệm phân chia vai trò cho từng người đảm đương như bà đã từng một lần thích thú khi làm điều đó với triều đình ở lâu đài Petit Trianon tại Versailles. Phu nhân De Tourzel sẽ đóng vai nữ bá tước De Korff; thái tử và công chúa đóng vai 2 đứa con của bà bá tước. Elizabeth và Marie-Antoinette đóng vai người hầu. Hoàng hậu và cô em gái nhà vua phải ăn mặc cho thích hợp với vai trò như thế với áo ngắn bên ngoài áo choàng đi với mũ đội cùng màu. Riêng với nhà vua, ông sẽ cải trang như một người dân bình thường với áo choàng và áo gi lê, mũ rộng vành để trở thành ông Durant, nhân viên đại lý thương mại cũa nữ bá tước.
Nhưng không lâu sau đó, mọi người cảm thấy mệt mỏi với vai trò đảm nhận và sự khắc nghiệt trong việc giữ kín sự nặc danh. Đặc biệt với vua Louis, người chưa từng bao giờ có kinh nghiệm trong việc giả làm một người khác.  Do đó, ông tin tưởng rằng Paris đã ở sau lưng họ với đám câu lạc bộ Jacobin cùng đám báo chí cuồng tín và đám đông cuồng dại, mọi sự giờ đã khác. Nhà vua và hoàng hậu giờ có lẽ phải được tôn trọng.  Khi thời tiết nóng bức hơn, họ kéo rèm lên, cởi bỏ mũ áo và khăn choàng và ngắm nhìn dân quê đang lao động trên cánh đồng.  Những người nông dân đồng thời cũng quan sát họ và tự hỏi về nhân thân của đám quý tộc giàu có trên chiếc xe màu vàng đen tổ bố lộng lẫy này. Trên những đỉnh đồi lên dốc dài, chẳng hạn như ngọn đồi đi lên từ thung lũng Marne đằng sau La Ferté-sous-Jouarre, hầu hết mọi người ra khỏi xe và bước đi phía sau xe trong khi đám ngựa hì hục kéo xe lên đồi. Sau đó trong ngày, nhà vua cũng bắt đầu ra khỏi xe ở tại những trạm trung chuyển, tự giảm bớt áp lực và có lúc dừng lại trò chuyện với đám người bao quanh ông, hỏi thăm về thời tiết và mùa màng giống như khi còn trẻ ông thường nói chuyện với dân lao động ở tại Versailles. Các vệ sĩ và 2 nữ hộ khán lúc đầu cũng lo lắng về cái tính thờ ơ của nhà vua. Ở một trong những trạm dừng chân, anh chàng Moustier đã cố che chắn nhà vua khỏi một đám đông lớn dân quê. Tuy nhiên, vua Louis bảo anh ta rằng lúc này không  cần quá cẩn thận như  vậy và  hành trình giờ dường như đã vượt qua được mọi bất trắc.  Cuối cùng, bọn vệ sĩ kết luận rằng hoàng gia dư biết họ đang làm gì và vì thế bọn vệ sĩ họ không cần phải quan tâm nữa.
Thực ra, người ta đã nhận ra nhà vua.  Franҫois Picard, một tài xế xe hàng tin chắc rằng anh ta đã thấy hoàng gia khi họ đổi ngựa bên ngoài đoạn trung chuyển Montmirail. Vua Louis  bị nhận diện lần nữa ở cách ba trạm sau đó tại Chaintrix bởi Jean- Baptish De Lagny, một nhân viên bưu điện cùng với Gabriel Vallet người con rể của ông. Cả hai người đã từng tham dự lễ hội Toàn Quốc ở Paris năm 1790. Như người dân đia phương ghi nhớ, tại đây cả gia đình hoàng gia đã ra khỏi xe và dùng bữa trong một quán trọ trực thuộc trạm đổi ngựa và họ đã để lại 2 cái chén nhỏ bằng bạc có đóng dấu huy hiệu của hoàng gia trên đó. Dù bất cứ gì, Lagny đã chỉ định Vallet đến lái chiếc xe của hoàng gia tới Châlons-sur-Marne, và anh con rể đã thì thầm tin tức nóng hổi này vào tai ông chủ bưu điện, một người bạn rất thân của gia đình anh ở tại đó.
Khoảng 4 giờ chiều, họ tiến vào Châlons, đoàn di hành có lẽ có lý do để bối rối.  Cho đến lúc này, đây là thị trấn lớn nhất giữa 2 thành phố Paris và Montmédy và chắc chắn là có nhiều gia đình quý tộc địa phương đã từng gặp gỡ hoàng gia tại Versailles. Dù vậy, Louis dường như chẳng ra vẻ thận trọng hơn những trạm phố thị nhỏ họ đã vượt qua.  Không kể tới ông Viet chủ bưu điện, nhiều người khác cũng đã nhận ra họ. Phu nhân Royale nhớ lại:  “Ai ai cũng nhận ra chúng tôi. Nhiều người đã tạ ơn Thiên Chúa cho họ được gặp gỡ nhà vua và họ cầu chúc ngài an lành trên con đường bôn tẩu”. Người dân có thực sự vui thích khi nhìn thấy nhà vua rời khỏi kinh đô không, hay đơn giản vì họ quá sốc đến không biết làm gì.  Ông Viet với đôi bàn tay điêu luyện lặng lẽ thay ngựa và nhìn đoàn xe rời xa thị trấn.  Viên thị trưởng tức thì được thông báo, nhưng ông ta cũng chẳng biết nên làm gì. Mãi đến nhiều giờ sau đó, khi người đưa tin đã từ Paris trở về để xác nhận tin hoàng gia bôn tẩu là chính xác và đã gửi theo một sắc lệnh ngăn cản lại thì chính quyền thị trấn mới bung ra hành sự.
Rời xa được Châlons  và đông tiến về phía biên giới  địa phận Lorraine, đoàn người bôn tẩu vô cùng lạc quan khi cảm thấy họ đã vượt qua được trở ngại lớn cuối cùng, chẳng bao lâu nữa sẽ ở trong sự che chở an toàn của công tước De Choiseul cùng đội kỵ binh của ông. Nắm toàn bộ chi tiết của hành trình trong tay, vua Louis nhận thức rằng họ đã trễ đến gần ba tiếng đồng hồ theo kế hoạch dự trù, dù vậy đối với ông chắc chẳng có vấn đề gì xảy ra. Tuy nhiên, tâm trạng  họ thay đổi thình lình khi họ đến gần trạm dừng chân tại Somme-Vesle, nằm đơn độc trên con lộ chính cách làng mạc một quãng đường. Trong một vùng khai khẩn nông nghiệp lớn trống trải ở chung quanh, họ hoàn toàn không thấy quân lính. Valory thận trọng điều tra và khám phá ra rằng, quả thực đội kỵ binh đã có mặt tại đó chờ họ bên một cái hồ nhỏ quá khỏi trạm dừng chân một chút, nhưng bọn lính đã bị dân quê địa phương quấy rầy và họ đã rút đi một giờ trước đó. Lúc đầu. đoàn người nghĩ rằng Choiseul có lẽ đã  chỉ rút đến một địa điểm kín đáo  xa hơn một chút. Thế nhưng khi họ tiến đến trạm đổi ngựa kế tiếp vẫn không thấy bóng dáng ai. Khi hoàng gia tiến vào thị trấn Sainte-Menehould vào lúc xế chiều, theo như lời của Tourzel,  giữa cái âm u của núi rừng Argonne bao phủ, họ còn bị bao vây bởi một nỗi lo lắng khủng khiếp.

Sụp đổ

Trong những ngày trước, việc tổ chức hộ vệ cho nhà vua lúc đầu diễn ra khá êm ả, mặc dù đã có những thay đổi vì cái quyết định ở giây phút chót của nhà vua khi kế hoạch thực hiện hoãn lại một ngày trễ hơn dự tính. Khi Fersen cùng hoàng gia hoàn tất việc chuẩn bị và tiến hành cuộc bôn tẩu ở Paris thì viên tướng Bouillé cũng đang thực hiện một loạt công việc xếp đặt việc chuyển quân để tiếp rước nhà vua. Chính viên tướng đã rời khỏi tổng hành dinh ở Metz hôm 16 tháng Sáu, lấy lý do với  chức sắc địa phương là  đi kiểm  tra mặt trận về các hoạt động của quân nước Áo theo như lời đồn đãi. Lệnh tập trung quân lính, thu gom tích trữ lương thực và tiếp liệu với số lượng lớn tại Montmédy được ban hành. Vào ngày 20, ông tướng đi tới Sternay, một thị trấn kiên cố tại Meuse nằm giữa Montmédy và Varennes.  Đứa con trai út của ông cùng với một sĩ quan nữa, nam tước De Raigecourt, đã được gửi tới Varennes trước đó cùng với toán thay ngựa, tăng viện cho khoảng 40  lính Đức đóng quân tại đó. Để tránh bị nghi ngờ, họ giữ ngựa trong chuồng của một quán trọ ngay ở mạn Đông của dòng sông và chỉ khi được thông báo  cho biết  nhà vua gần tới mới dẫn chúng đến tới ranh giới phía Nam của thị trấn Varennes. Ngay trong đêm 20 – 21 tháng Sáu, viên tướng Bouillé cùng một nhóm nhỏ sĩ quan bí mật cưỡi ngựa vào sâu hơn tám dặm ở phía Nam tới một vị trí vắng vẻ ngay phía Bắc một thị trấn nhỏ tên Dun. Trong khi đó, các toán kỵ binh Đức khác do Damas và Andoins chỉ huy từ mặt Nam tiến tới kiểm soát những vị trí  trọng yếu ở Clermont và Sainte-Menehould. Vào sáng ngày 21, Franҫois De Gougelat tự tay dẫn 40 khinh kỵ binh từ Sainte-Menehould đi tới Somme-Vesle gặp gỡ bá tước De Choiseul vào giữa trưa cùng với người thợ làm tóc Léonard đang chờ ở trạm dừng chân.
Tuy nhiên, những kế hoạch kỹ lưỡng này không được tiến hành ở nơi vắng người mà ngay giữa  sự chứng kiến của đám dân chúng thụ động.  Người dân Varennes không đơn độc trong việc nhận thức về việc di chuyển quân một cách khó hiểu ở trong vùng trong suốt tháng Sáu.  Mối nghi ngờ chung về ông tướng Bouillé, người có biệt danh “tên đồ tể của thành phố Nancy”, cùng những viên sĩ quan quý tộc  có mặt trong vùng càng gia tăng mạnh mẽ, cùng với sự có mặt đông đảo đám con buôn nói tiếng Đức trong tất cả các toán người mà dân chúng giờ thấy họ đi qua. Sự căng thẳng càng phức tạp hơn vì quân đội đã không có những lời cảnh báo trước về sự hiện diện của kỵ binh.  Chính quyền địa phương chỉ được thông báo vào phút chót rằng quân lính được gửi tới để bảo vệ chuyến xe tiền lương đang được chuyển  từ Paris tới để trả lương cho lính trấn biên cương. Thế nhưng lời giải thích không làm dân chúng địa phương bớt lo sợ.  Tại sao cần nhiều kỵ binh như thế khi  mà chỉ cần một toán hộ vệ đi theo từ đầu đến cuối là đủ?  Tại sao cấp chỉ huy phái đi toàn lính nói tiếng Đức? Liệu chiến tranh có xảy ra không luôn luôn là một câu hỏi nguy cấp cho vùng tiền tuyến, và nếu như thế, đội quân Đức do đám sĩ quan quý tộc chỉ huy sẽ chiến đấu cho phía nào? Nực cười là các toán hộ vệ được phái đến để bảo vệ nhà vua lại khơi dậy sự nghi ngờ lớn lao trong đám dân chúng nơi nhà vua phải  đi ngang qua.
Tại Montmédy, việc sửa soạn trại đóng quân to lớn cùng việc đặt nướng tới 18,000 khẩu phần bánh mì cũng kích thích sự lo lắng và nghi ngờ.  Những cuộc chuyển quân lạ thường trong thời bình, những quân cụ xuất hiện khắp mọi nẻo đường, lính canh rải khắp mọi nơi làm tăng thêm  sự cảnh giác trong đám quần chúng. Người dân Clermont ở sát cạnh phía Nam Varennes quan sát thấy có tới 150 kỵ binh đi ngang trong một ngày, hôm sau lại thêm 160 mạng nữa . Bọn đến sau này nhanh chóng tuyên bố ý định ở lại qua đêm. Không mấy người tin vào chuyện vận tải xe chở lương tiền, và tin đồn đãi lan toả ngay rằng cái “ kho tàng quý” bí mật đó có phải là do chính hoàng hậu và người anh lớn của bà, hoàng đế nước Áo, đang chuyển lậu đi hay kho tàng đó có khi là chính hoàng hậu không chừng. Tương tự vậy, thị trấn Sainte-Menehould  ở xa hơn về phía Tây cũng thấy sự xuất hiện đột biến không hề loan báo trước của 2 đội kỵ binh liên tục.  Đội thứ hai là một toán khinh kỵ do Andoins chỉ huy, vào giữa buổi sáng 21 tháng Sáu,  đã xuống ngựa  ngay tại trung tâm thị trấn và ở đó suốt ngày chờ đợi, trong khi viên sĩ quan chỉ huy lâu lâu lại cuỡi ngựa ra khỏi thị trấn đứng ngóng về phía chân trời xa. Hễ mỗi khi đám sĩ quan ra đi như thế, dân thị trấn lại thử bắt chuyện với đám kỵ binh nói tiếng ngoại quốc, mời mọc bọn chúng ăn nhậu để gạ hỏi về mục đích thực sự làm họ có mặt trong vùng.  Nhiều tên trong đám lính cũng cảm thấy có gì bí ẩn trong cái nhiệm vụ kỳ lạ này của họ và bắt đầu tự hỏi có nên tin tưởng bọn sĩ quan của chúng nữa không. Đến xế chiều, sự nghi ngờ đã lên đến một mức độ mà các phần tử vệ binh quốc gia (của lực lượng cách mạng) bắt đầu tự vũ trang và chuẩn bị cho một tình huống tệ hại nào đó chưa nhận diện được.
Cùng lúc đó, lại thêm một số biến cố thảm khốc xảy ra ở một vị trí thiết yếu tại Somme-Vesle, nơi  toán khinh kỵ binh của bá tước De Choiseul đang chờ đón, không phải trong thị trấn mà ở ngoài vùng quê rộng mở. Giống như những vùng quê xa xôi hẻo lánh của nước Pháp sau khi cuộc Cách mạng khởi sự, nông dân nơi đây đã cố tình chống lại việc đóng sưu cho đám lãnh chúa. Khi đám kỵ binh với áo giáp nón sắt lộng lẫy uy nghi ào tới, có một sự hoảng hốt lan tỏa nhanh chóng trong cộng đồng dân đia phương rằng bọn lính tới cướp đoạt tài sản mùa màng của dân chúng. Người dân tụ tập về từ khắp nơì với chĩa liềm trên tay la lối om xòm, hăm doạ bọn kỵ binh. Vào khoảng giữa trưa, sau khi nghe được tin tức từ đám người du hành đi qua, một phái đoàn vệ binh quốc gia từ Châlons đến điều tra sự việc.  Choiseul và Goguelat cố gắng giải thích cho họ với chuyện đoàn xe  tải tiền lương. Mặc dù đám vệ binh hành xử một cách hoà bình và quay trở về, người dân quê không bị thuyết phục và họ tiếp tục hăm doạ đội quân.
Cùng lúc đó, Choiseul càng trở nên bồn chồn với sự chậm trễ quá thời hạn của nhà vua. Goguelat đã cẩn thận sắp đặt giờ giấc cho hành trình và với sự tính toán của ông, hoàng gia đáng lẽ phải tới nơi vào lúc 2 giờ.  Trong một bức thư gửi đến Bouillé, ngay cả Fersen cũng hứa chắc rằng nhà vua sẽ đến Somme-Vesle vào khoảng 2 giờ rưỡi: “Ngài có thể tin chắc như vậy”. Cuối cùng, khi chiều xuống, viên bá tước trẻ đã đưa ra một số quyết định tệ hại dẫn đến hậu quả nặng nề cho toàn kế hoạch bôn tẩu. Mất bình tĩnh vì sự có mặt của đám đông, lại lo ngại rằng có thể nhà vua đã thất bại trong việc trốn khỏi Paris, lo sợ hơn nữa  rằng ngay cả khi nhà vua có tới được thì với hoàn cảnh gần như bạo loạn  ở trạm dừng chân thay ngựa này cũng gây nguy hiểm cho hành trình của vua, Choiseul ra lệnh rút lui, và không chỉ rút lui một quãng ngắn thôi mà rút hoàn toàn về đại bản doanh của Bouillé ở tại Stenay trên dưới 50 dặm. Có lẽ còn hơn cả số mệnh, ông ta còn chuyển lời tới cả những đơn vị  kỵ binh đang đợi lệnh phía sau ông rằng: “Dường như “kho tàng” không thể đến trong ngày hôm nay, Ta sẽ quay về bên cạnh tướng Bouillé. Ngày mai các ngươi sẽ nhận được lệnh mới “.  Cuối cùng, ông ta còn làm thêm một sự lựa chọn lạ thường khi xử dụng Leonard, người thợ làm tóc cho hoàng hậu làm người chuyển giao thông điệp.
Bá tước cùng lực lượng vũ trang nhỏ nhoi của ông biến đi khoảng 8 tiếng sau đó về hường Đông Bắc bằng cách đi xuyên qua cánh đồng chứ không xử dụng con đường chính, càng làm tăng thêm tình hình lộn xộn khi họ phi ngựa băng qua hết làng này đến làng khác mà không báo trước, trước khi  ồ ạt kéo vào cánh rừng Argonne và bị lạc đường. Ngược lại, anh thợ làm tóc Léonard trong vai liên lạc viên quân sự đi trên chiếc xe nhỏ đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc.  Liên tục lướt qua Sainte-Menehould, Clermont và Varennes, anh ta đã chuyển tải điược thông điệp cho hay rằng nhà vua không tới. Ở 2 thị trấn đầu tiên, Andoins và Damas hân hoan đón nhận tin để giải tỏa nhiệm sở quân lính và cho họ trở về nơi đóng quân với ý tưởng giảm bớt sự lo sợ của người dân địa phương.  Tuy nhiên, cả hai đều ở lại vị trí cùng một số ít sĩ quan chờ xem xét chuyện gì sẽ tới.  Tại Varennes, cả viên chỉ huy và đám kỵ binh đều rút lui trong đêm, chỉ còn lại Raigecourt và đứa con út của Bouillé ở lại quán trọ trong tư thế sẵn sàng chờ  đợi để thay đổi ngựa cho đoàn nếu vẫn còn cần thiết.
Khi đoàn lữ hành hoàng gia theo con lộ chính tiến tới Sainte-Menehould đi vào trung tâm thị trấn, nỗi lo lắng bởi không tìm thấy Choiseul có giảm bớt chút ít.  Giờ họ đã nhìn thấy đám lính, tuy  bọn chúng dường như đang nghỉ xả hơi, đã rời lưng ngựa và buông vũ khí. Vài người trong họ còn đang lai rai nhậu nhẹt trong quán. Điều đáng lo hơn là có thấp thoáng những toán vệ binh quốc gia cầm vũ khí trên tay đang đi lại tấp nập ở bên phía đối diện với dinh thự Hoàng Gia ở phía trước mặt sảnh đường lót đá sang trọng của thị trấn.  Đoàn lữ hành chắc phải có cảm giác như đang đâm đầu vào một bi kịch đang mở màn trên sân khấu của công viên thị xã, nơi toàn thể công dân đã tập trung nơi đó. Họ chắc cũng nhận thức được rằng mọi người đến để canh chừng họ,  đặc biệt cách họ nhìn đăm đăm mấy người vệ sĩ mà lúc này trông giống như người của  ông hoàng De Condé. Cách một số công thự xa xa trên con đường quẹo qua phải, đoàn hoàng gia  lữ hành tìm thấy trạm thay ngựa mà ở đó Valory và chủ  ngựa đã chuẩn bị sẵn sàng.  Việc thay đổi xảy ra nhanh chóng và trót lọt.  Trong khi họ chờ thay ngựa, lo ngại vì nghe được chuyện ầm ĩ xảy ra trước đó, hoàng hậu cho gọi Antoins đến cạnh xe. Viên sĩ quan cố gắng ra vẻ bình thường khi anh ta tiến gần. Nhưng khi nhìn thấy nhà vua, bản năng tự nhiên khiến anh đưa tay chào. Sau đó anh thì thào: “Kế hoạch đã không như dự tính. Thần dân phải rời xa ngay nếu không sẽ bị nghi ngờ”. Nói rồi anh ta bỏ đi ngay. Như Tourzel nhớ lại: “Mấy lời này như dao đâm mạnh vào tâm khảm chúng tôi”.
Người quản lý trạm thay ngựa, Jean-Baptiste Drouet, chỉ tới nơi sau khi công việc thay ngựa gần hoàn tất. Là đứa em trai trong nhà 2 anh em, 28 tuổi và đã phục vụ 7 năm trong đội kỵ binh trước khi trở về quê làm việc trên cánh đồng của gia đình và điều hành trạm nuôi ngựa do bà mẹ góa của anh làm chủ. Anh đầy tham vọng và đầy tự tin, nhưng anh cũng thấy bị ép mình vào công việc nặng nhọc của đồng áng là lao động chân tay, một sự hạ thấp đáng kể so với nghề nghiệp lôi cuốn của anh thời trẻ và là nguồn gốc của sự bất mãn. Lúc này, khi anh nhìn thấy cỗ xe lộng lẫy và khi cẩn thận quan sát người  bên trong xe, anh sững sờ khi nhận ra nhà vua và hoàng hậu nước Pháp, người mà  anh đã có lần thấy khi đơn vị anh đóng gần Versailles. Mặc dù trước đó chưa bao giờ nhìn tận mặt nhà vua, cái khuôn mặt của người đàn ông ngồi đập vào mắt anh giống như hình ảnh của nhà vua Louis XVI được in trên mớ tiền giấy mới được lưu hành sau đó. Sau khi nhìn đoàn xe rời bánh, anh ta bèn cho mọi người quanh anh hay rằng nhà vua vừa mới đi qua. Lúc đầu, cũng giống như người dân ở Chaintrix và Châlons, chẳng ai biết phải làm gì hay nghĩ gì. Nhưng chỉ ít phút sau đó, Andoins cho thổi kèn triệu tập, ra lệnh quân lính lên ngựa chuẩn bị lên đường và  thình lình, mọi việc trở nên tỏ tường trong mắt họ.  Tất cả chỉ là âm mưu. Bọn kỵ binh tới chẳng phải để hộ tống xe lương nào hết, nhưng là để theo dấu nhà vua hoặc đang chạy trốn, hoặc đang bị bắt cóc.
Sau thời gian một loạt các biến cố xảy ra tại Sainte-Menehould  ra vẻ mơ hồ, hầu như ngay tức khắc, đán vệ binh quốc gia  địa phương trang bị súng cá nhân và kèn trống  tự động tổ chức ra canh gác đường phố để ngăn chặn  lối đi lại của đám kỵ binh. Cùng lúc, những người dân khác bắt đầu gợi chuyện với bọn kỵ binh và thuyết phục họ bất tuân lệnh thượng cấp của họ.  Trong khi Andoins đang cố gắng giải thích với người dân thành phố, một trong những viên sĩ quan của anh ta nổ một phát súng lên trời và phá vỡ hàng rào vệ binh, tránh né khỏi mấy phát đạn bắn theo hắn để tìm đường  chạy thoát ra khỏi thị trấn. Lúc này, tiếng chuông nhà thờ đổ vang và hỗn loạn bắt đầu lan tỏa, Andoins cùng đám sĩ quan còn lại bị tước đoạt vũ khí và giam giữ trong trại giam thị trấn để giữ an toàn cho họ. Drouet được gọi đến hội đồng thành phố để tham dự một cuộc họp khẩn cấp, trực tiếp tham dự vào thành phần bạo loạn. Sau khi nghe lời tường thuật của anh, các trưởng lão trong thị trấn đã có một quyết định lạ thường theo ý kiến của chính họ. Nếu nhà vua đã đang rời kinh đô, điều đó chỉ có nghĩa là ông ta đang tiến về vùng biên giới, có lẽ là để quay trở lại cùng với đội quân ngoại quốc với mục đích xâm lược đất nước và chấm dứt cuộc Cách Mạng. Như vậy, các thị trấn ở hướng biên giới sẽ phải được báo động và nhà vua cần bị chặn lại. Họ yêu cầu Drouet là một trong những người cưỡi ngựa giỏi nhất thị trấn đi theo sát nhà vua. Ông chủ bưu điện cũng lập tức tuyển thêm người bạn kỵ sĩ Jean Guillame rồi cả hai lên đường đuổi theo hoàng gia, lúc này đã đi trước họ một tiếng rưỡi đồng hồ. Khi hai người tới gần thị trấn Clermont, họ gặp gỡ người lái xe cho ông chủ trạm bưu điện trên đường trở về. Anh này cho họ biết đoàn lữ hành đã rời con đường chính và rẽ qua mạn Bắc. Hai người bèn băng qua cánh đồng trực chỉ Varennes.
Chừng một giờ trước đó khoảng 9 giờ rưỡi, sau một hồi leo đồi Argonne chậm chạp, đoàn lữ hành hoàng gia đã tới được trạm thay ngựa tại Clermont. Trời choạng vạng tối và trạm ở ngay sát bìa trước khi vào thị trấn, vì thế ít người nhìn thấy họ đi đến và việc thay ngựa thật nhanh chóng. Bá tước Damas, người vẫn kiên nhẫn chờ đợi ở gần đó thận trọng nói ít lời với hoàng gia, nhưng nói nhiều hơn với Valery, cảnh báo cho họ biết về việc xáo trộn tại Clermont vì sự hiện diện của quân lính và hứa hẹn sẽ đi sau hộ vệ đoàn xe ở khoảng cách xa xa, đúng như theo mệnh lệnh trong thư của Bouillé. Tuy nhiên, khi đoàn lữ hành đi ngang qua thị trấn, người  ta thấy rõ họ đi qua giữa phố và rẽ về hướng Varennes. Những biến cố tiếp theo tại Clermont đã tương tự một cách lạ lùng  như đã xảy ra tại Sainte-Menehould. Không ai nhận ra hoàng gia nhưng mọi người nhận rõ bộ trang phục màu vàng của gia nhân ông hoàng Condé và họ kết luận rằng chắc chắn phải có sự nối kết với việc đám lính đến đóng quân một cách khó hiểu trong thị trấn trong 2 ngày qua. Khoảng một giờ sau đó, khi đám vệ binh quốc gia khoác quân phục và trang bị vũ khí thì viên sĩ quan thoát khỏi Sainte-Menehould lúc trước đến nơi và báo cáo cho Damas biết hoàng gia đã bị nhận diện và bạo loạn đã xảy ra dữ dội khi họ rời khỏi. Sau khi viên chỉ huy cố gắng tập trung người của ông, họ từ chối vâng lệnh vì lúc này đa số đã đang nhậu nhẹt tưng bừng hoặc đã bị người dân khuyến dụ. Ông ta đã cùng một toán nhỏ phi ngựa hết sức thoát đi để cảnh báo nhà vua.
Trong lúc đó đoàn lữ hành hoàng gia vẫn đang đều đều tiến tới  dọc theo thung lũng  Aire,  mệt mỏi vì đoạn đường dài và ngủ thiếp đi trong đêm tối mặc dù rất lo âu và căng thẳng. Sự căng thẳng có thể đã tăng lên tột độ nếu họ biết được những làn sóng hoảng hốt và sự nổi loạn đang  nổi lên sau lưng họ. Lại còn những đợt sóng nhỏ xuất phát từ những biến động tại Siante-Menehould và Clermont và của chính việc cưỡi ngựa ẩu tả băng qua các làng mạc vùng Argonne của bá tước De Choiseul.  Nhưng còn một đợt sóng  cảm xúc to lớn hơn đang lan tỏa khắp vương quốc, khi toàn thể nhân viên chuyển giao thư và người dân đổ xô xuống đường phố nước Pháp để thông báo cho nhau hay về cái tin nhà vua biến mất.
Khi đoàn lữ hành đến Varennes vào khoảng 11 giờ tối, lại thêm một cú sốc thất vọng não nề và bất trắc. Bouillé và Choiseul đã hứa đặt một trạm thay ngựa mới ở cạnh khu rừng gần con đường ngay trước những căn nhà đầu tiên. Nhưng mặc dù Valery và Moustier đã lục tìm khắp nơi, đi cả vào khu dân cư đang yên ngủ sát bờ sông vẫn không tìm thấy trạm đâu.  Họ còn cả gan gõ cửa mấy căn nhà ở lối cổng vào thị trấn cũng không có được tin tức gì. Đoàn lữ hành bèn yêu cầu người đánh xe bỏ rơi trạm và tiếp tục hành trình tới Dun, nhưng đoàn người lái xe từ Clermont đã nhận chỉ thị  nghiêm ngặt từ ông chủ trạm của họ là không đi xa hơn Varennes trừ khi  được tạm nghỉ và thay ngựa. Khoảng ba hay bốn mươi phút trôi qua trong lúc họ đi lục tìm và tranh cãi với lái xe và trong khi họ vẫn còn đậu lại ở bìa thị trấn thì Drouet và Guillame phóng qua họ đi vào thị trấn.
Cuối cùng, lái xe đồng ý lái vào thị trấn trong khi họ tìm ngựa để thay. Họ chậm rãi tiến tới trong bóng đêm với con đường chỉ leo lét những ngọn đèn của chiếc xe ngựa nhỏ. Họ bỗng nghe tiếng nói, tiếng la của ai đó đang hét lên : “Cháy, cháy”.  Phu nhân De Tourzel nhớ lại rõ ràng rằng: “Chúng tôi nghĩ mình đã bị phản bội. Chúng tôi đi trên đường với cảm giác buồn bã phiền muộn thật không thể nào diễn tả nổi”. Họ tiến vào cổng vòm của quán trọ Cánh Tay Vàng và bị ngăn chặn tại đó.

Trở về Paris

 Đối với hoàng gia cùng những người ủng hộ, sự việc trong đêm tại Varennes có thể chỉ là một nỗi khổ tâm kéo dài, một cảnh trong vô số các cơn ác mộng tàn tệ nhất của họ, hay như bà De Tourzel diễn tả là “tám tiếng đồng hồ đợi chờ khốn khiếp.” Cũng đã có những giây phút hy vọng:  đó là lúc dường như những lãnh đạo thị xã mở lòng sẵn sàng giúp đỡ họ, lúc có sự xuất hiện kỳ diệu, của lúc đầu là Choiseul và Goguelat, và sau đó là Damas và Deslon, những tay đầu lãnh của các đơn vị kỵ binh.  Cuối cùng cũng vẫn còn ảo tưởng rằng tướng Bouillé đang ở đâu quanh đó và ông ta đang trên đường để tới giải cứu họ. Tuy nhiên vua Louis thẳng thừng từ chối các đề nghị của bọn sĩ quan giải cứu hoàng gia qua bạo lực, để không làm hại đến hoàng hậu và các con.  Sau đó, hội đồng lãnh đạo thị trấn thay đổi ý định. Việc  sau đó họ từ chối để cho đoàn lữ hành tiếp tục hành trình là một sự thất vọng não nề. Sau hết, sự xuất hiện của sứ giả đưa tin đến từ Paris với sắc lệnh đưa hoàng gia trở về Paris là sự nhục nhã thất bại cuối cùng.
Có lúc họ cố lảng tránh. Họ nại cớ rằng đám trẻ cần được ngủ nhiều hơn và ngay chính họ cũng cần nghỉ ngơi. Một trong hai tỳ nữ khán hộ còn giả bộ bị đau bụng dữ dội. Sau đó, họ yêu cầu và được  để yên để lấy lại tinh thần và họ bèn đốt bỏ các hồ sơ tài liệu của họ mà họ có thể bị buộc tội vì chúng. Cuối cùng, vào bảy giờ rưỡi sáng, đoàn hoàng gia lữ hành bị giải đi từ kho hàng của Sauce đến hai cỗ xe ngựa của họ  lúc này đã quay đầu chuẩn bị. Hoàng gia đã kinh hãi khi nhìn thấy một biển người đông nghẹt đường phố và che kín cả công viên sát bờ sông đang chen lấn nhau để xem mặt nhà vua và hoàng hậu cùng với những tiếng la “ Vạn tuế đất nước! Vạn tuế đức vua! Xin Ngài quay về kinh đô”. Vẫn với cử chỉ vô cùng lịch thiệp, bà tước nâng đỡ hoàng hậu lên xe. Bà quay qua hỏi ông: “ Bá tước có nghĩ là Fersen đã thoát đi được chứ?” Bá tước trả lời là ông tin anh chàng đó đã đi thoát.  Không lâu sau đó, chính ông ta bị xô đẩy vào giữa đám đông, bị đánh đập và dẫn vào trại giam  ở Verdun cùng với Damas và nhiều viên sĩ quan khác. Chỉ có mỗi anh chàng Goguelat xảo quyệt với cánh tay băng bó đã bằng cách nào đó thoát ra khỏi thị trấn để rồi bị bắt nhiều ngày sau đó ở biên giới nước Áo.  Khi đoàn xe chậm chạp lăn bánh lên dốc đồi theo con đường chính quay về Paris, hoàng gia nhìn qua dòng sông nước chảy và tự hỏi không biết Bouillé lúc này biến đi đằng nào.
Chính lúc đó, viên tướng đã đang ở cách xa tới hơn một tiếng rưỡi đường cưỡi ngựa. Ông ta có thông tin khủng khiếp đó  vào  khoảng 4 giờ sáng do được anh con trai đuổi kịp ông khi ông cùng đoàn tuỳ tùng gần đi tới Stenay sau khi đã từ bỏ kế hoạch  vì  đợi chờ  quá lâu ở bên ngoài Dun.  Cần phải có ít nhất 45 phút để tập họp toàn bộ đội kỵ binh hoàng gia Đức quốc với khoảng ba bốn trăm tay kỵ binh thiện chiến lên lưng ngựa  để quay lrở lại Varennes.  Khi tới gần thị trấn, họ gặp hàng trăm nông dân và vệ binh đang được huy động toàn diện đi lại mọi ngõ ngách với kèn trống và cờ quạt trên tay. Có khi bọn họ buộc phải dùng kiếm để hăm doạ trước khi đám đông chịu nhường đường. Khi họ kéo tới được tới ngọn đồi trông xuống Varennes, thì đã  đến  chín giờ hay trễ hơn và họ không tiến xa hơn nữa.
Bouillé sau này biện luận rằng cây cầu đã bị phá hủy và toán quân của ông không thể lội bộ qua sông. Thực ra trước đó vài giờ ,  viên chỉ huy kỵ binh ở Varennes đã cưỡi ngựa băng qua sông và có một con đường khác vượt qua sông Aire ở mạn Nam chỉ cách đó chừng 2 dặm.  Đúng hơn, có lẽ Bouillé đã được báo cáo là nhà vua đã  đi khỏi đó hơn 2 tiếng rồi và còn bị bao vây bởi hàng ngàn vệ binh có vũ trang. Bị dân chúng địa phương hăm doạ từ khắp nơi, lại lo lắng cho sức ngựa trải qua cuộc hành trình xuôi Nam quá lâu, và có lẽ ông tỏ ra rất nghi ngờ về khả năng trông chờ vào đội kỵ binh của chính ông, những người trước đó vài giờ đã trở mặt đi theo đám “cách mạng ái quốc”, ông tướng giờ quay đầu rút lui về Stenay. Ông vào quán trọ uống một tách cà phê và tập họp 2 thằng con trai cùng khoảng 20 sĩ quan nữa đi qua xứ Áo-Bỉ cách đó vài dặm đi lưu vong. Hai hôm sau, Nam tước Klinglin, một trong những viên sĩ quan đã từng làm việc thân cận với vị tướng mấy tháng trước đó, đã viết cho người chị (em) gái của anh. Anh ta phàn nàn về sự thất bại của một “kế hoạch tuyệt vời như thế: “Ôi  thật khó khăn để vượt qua số phận!  Định mệnh thật lạ lùng khi mà những tay lãnh đạo tầm thường của một thị trấn nhỏ bé vô danh như Varennes lại có thể  cầm chân được nhà vua. Hỡi bạn bè thân thiết của ta, phải chi được chết đi để có thể cứu giúp đức vua.”
Vào khoảng thời gian Bouillé bắt đầu rút lui thì đoàn lữ hành hoàng gia cũng vừa tiến vào Clermont. Những người trong đoàn có lẽ không bao giờ quên đi được cái hành trình khủng khiếp trở về Paris này. So sánh với hành trình gấp rút tới Varennes hôm 21 tháng Sáu, chuyến trở về  quá sức buồn chán này kéo lê thế tới 4 ngày. Đây là thời điểm nóng nhất của mùa hè mà tốc độ của đoàn xe lại quá chậm chạp đến không có được tí gió thoảng qua. Đã thế, đám đông vĩ đại rầm rập bên ngoài dọc theo đoàn xe  còn làm tung lên những đám bụi lớn càng làm tăng thêm cường độ của sự khốn khổ. Valory, người ngồi ở phía trước cỗ xe lớn với tay bị trói đã nhắc lại cơn gian nan: “Chúng tôi bị mặt trời thiêu cháy và nghẹt thở vì bụi đường.”
Lúc đầu khi mới đi ra khỏi Varennes, có chừng 6000 vệ binh quốc gia kèm theo canh giữ, họ bước đi hai hàng dọc, mang theo hình ảnh của sắc lệnh với sứ giả Bayon và đám vệ binh quốc gia của Paris dẫn đầu. Nhưng khi họ tiến về phía Tây, đám dân quê tụ tập đến từ mọi phương hướng, từ già đến trẻ nam nữ và thường nguyên cả làng kéo nhau đi, người đi xe kẻ đi bộ và mang theo bất cứ loại khí giới nào có được. Những người chỉ  đi quan sát đã choáng váng vì số lượng người ào xuống đường phố, tràn cả xuống những cánh đồng chung quanh và bám theo đoàn xe như một bầy ong. Anh chàng vệ sĩ Moustier nhớ lại rằng: “Đám đông khổng lồ không thể đếm được này thuộc đủ mọi lứa tuổi, mọi thành phần nam nữ, trang bị đủ mọi thứ từ súng ống, kiếm cung tới giáo mác búa liềm.”  Anh chàng Pétion người phụ tá hộ tống đoàn xe ở nửa đoạn đường chót cũng nói y như thế rằng: thêm vào  đám vệ binh  đi canh giữ là cả đống nam phụ lão ấu mà một số mang theo búa liềm giáo mác, cung kiếm và cả súng ống. Có nhiều người chỉ đơn giản đến để nhìn tận mặt nhà vua và hoàng hậu mà họ chưa từng gặp và cũng chưa từng hy vọng được thấy. Những người khác là thân nhân của đám dân quân trong thị trấn nhảy bổ đến để bảo vệ đất nước và đức vua, vì lúc đầu có tin đồn là nhà vua đang bị bắt cóc. Trước đây, theo thông lệ, cơ hội đầu tiên để họ được khoác lên người bộ đồng phục đầy màu sắc mới mẻ cùng với hiệu kỳ của toán quân của mình chỉ là trong những dịp  đi diễn hành quanh công viên thị trấn vào  các dịp lễ. Đôi khi đám đông trở nên náo động hăng say, nhất là khi đoàn xe hoàng gia đi qua những khu vực người dân kích động bởi cơn hoảng loạn đêm trước. Người ta hoan hỉ vì sự thành công của họ bằng việc ca hát nhảy múa và nâng ly rượu chúc mừng sự an toàn của đất nước và nhà vua. Các ông thị trưởng đua nhau đọc những bài diễn văn hùng tráng, rập khuôn theo những bài bình luận mà họ đã đọc  được từ những cuộc tranh luận của Hội Đồng quốc gia  về suy nghĩ của ông. Bà phu nhân trung thành De Tourzel đã sững sờ bởi những ngôn từ chửi rủa mà nhà vua phải chịu đựng từ cửa miệng của những chức sắc địa phương lúc này đang lên giọng dạy dỗ nhà vua về cái ý tưởng bỏ dân mà chạy trốn tồi tệ, gây cho họ nhiều nổi hãi sợ như vậy, ngay cả khi nhà vua chỉ tham khảo ý kiến với các viên chức hội đồng thành phố. Bà cảm thấy rằng : “Các viên chức địa phương chỉ có một ý tưởng trong đầu là vinh danh chiến công của họ và sỉ nhục hoàng gia. Thật là niềm vui sướng cho họ khi có được cơ hội áp đảo một  vương triều bất hạnh với những lời chửi mắng cay độc.
Tuy vậy vẫn có một yếu tố đáng sợ hãi. Viên tướng Bouillé cùng toán 400 quân kỵ binh của ông cưỡi ngựa tiến đến Varennes dọc theo đường lộ đã gây nên một mối lo sợ  lớn lao đối với dân quê, một nỗi kinh hoàng lan toả nhanh chóng từ làng này qua làng khác và càng tăng cường độ vì những cuộc chuyển quân khác trong vùng. Không lâu sau đã có những báo cáo lan truyền về tin hàng ngàn binh lính, có lẽ toàn thể quân Áo do viên tướng tồi tệ này dẫn đầu đang chuẩn bị tới để trừng phạt nhân dân 2 miền Lorraine và Champagne vì tội dám bắt giữ nhà vua. Trong số đám đông đi theo đoàn 2 xe  đang di chuyển với những tin đồn cứ thay đổi liên tục,  thái độ hân hoan mừng lễ có thể nhanh chóng biến thành phẫn nộ và một ước muốn trả thù. Thế nhưng sự phẫn nộ luôn luôn không trực tiếp vào nhà vua, vì những tiếng hô “vạn tuế đức vua” vẫn được nghe thấy trong suốt hành trình, mà vào những người họ cho làđã gây ảnh hưởng  lên nhà vua hay đã bắt cóc ông. Tuy nhiên, có một số trong đám đông có sự  quan ngại hướng đến hoàng hậu. Có những ám chỉ thô tục lên quan đến cuộc đời tình ái của hoàng hậu Marie, và cả nhũng nhận định miệt thị về người cha “thật sự” của vị thái tử kế vị. Khi Marie tặng một miếng thịt gà cho một vệ binh, anh chàng tỏ ra tử tế và cám ơn thì đám đông gào lên rằng thì là đừng đụng vào nó vì  coi chừng có độc. Nhưng sự thù ghét tập trung trên hết vào ba tay hộ vệ hoàng gia đang ngồi lái xe và vẫn còn mặc vệ phục màu vàng, biểu tượng của chế độ phong kiến cũ đang bị ghét bỏ. Bị cho là những kẻ cầm đầu xúi gịuc tạo nên cuộc tẩu thoát, họ liên tục bị hăm doạ chửi bới cũng như bị ném đá và phân súc vật lên người. Nhiều lúc có những nhóm người cố đến gần xe để trực tiếp tấn công họ trước khi các vệ binh quốc gia đẩy họ ra.
Anh chàng Sauce tự đi kèm bên cạnh đoàn xe đến tận Clermont trước khi quay trở về để chuẩn bị bảo vệ thị trấn của anh khỏi sự kiện có thể  bị  Bouillé tấn công. Đoàn xe lúc này di chuyển dọc theo con lộ chính đến Sainte- Menehould nơi mà viên thị trưởng thành phố có buổi diễn thuyết chính thức và Drouet cùng Guillame đã quay về nhà từ đêm hôm trước, công khai gia nhập vào hành trình. Một nhà quý tộc địa phương ở phía tây thị trấn, bá tước Dampierre, người đã chứng kiến buổi diễn thuyết của viên thị trưởng tại Sainte Menehould, đã cố gắng cưỡi ngựa đến gần đoàn xe hoàng gia để nói chuyện. Khi vệ binh đẩy ông ta ra xa, ông bèn hét lên “vạn tuế đức vua, rồi nổ súng lên trời trước khi cưỡi ngựa quay về lâu đài.  Dân chúng địa phương đã sẵn có lòng thù ghét vị bá tước này. Do đó, một nhóm người đuổi theo và bắn chết ông ta ngay trên cánh đồng. Không hiểu nhà vua có chính mắt thấy cảnh giết người đó không, nhưng đám cận vệ ngồi bên ngoài xe đã chứng kiến với vẻ kinh hoàng.
Vào thời điểm cuối ngày khi đoàn người và xe tới được Châlons-Sur-Marne, hoàng gia đã trải qua gần 40 giờ không ngủ. Một nhân chứng diễn tả: “Thật không thể diễn tả nổi họ kiệt sức cỡ nào.”  Nhưng tại đây, họ có lẽ có được vài tiếng nghỉ ngơi cho đỡ căng thẳng mệt nhọc. Hoành gia được  viên thị trưởng và các lãnh đạo đầu ngành  gặp gỡ tiếp đón ngay tại cổng vào thị trấn và được dẫn đến nghỉ ngơi tại một dinh thự của một cựu viên chức nhà nước. Đây chính là nơi vị hoàng hậu trẻ Marie-Antoine đã từng dừng chân nghỉ ngơi một đêm trên chuyến đi từ Áo đến Pháp hơn 21 năm trước. Giới thẩm quyền tại đây rõ ràng có vẻ thông cảm với số phận của hoàng gia. Đêm đó, còn có có một nhóm người sẵn lòng giúp nhà vua trốn thoát, mặc dù vua Louis đã từ chối ra đi mà không có gia đình đi cùng, và vì thế kế hoạch không thành. Sáng sớm hôm sau, nhà vua và hoàng hậu tham dự đại lễ Thánh Thể. Nhưng trước khi thánh lễ hoàn tất, một đội ngũ vệ binh khác  từ Reins đến đã hối hả đưa họ đi ngay.  Có những tin đồn mới cho rằng Varenes và Sainte-Menehould đã bị những đoàn quân cướp bóc lục soát và đốt cháy, vì vậy, vệ binh kiên quyết đưa nhà vua trở về Paris thật nhanh.
Vào buổi sáng, họ  lại tiếp tục khởi hành, đi tới với một tiến độ vô cùng chậm chạp dưới sự hộ tống của đoàn người lúc này đông đến từ 15000 đến 30000 người,  đi dọc theo vùng Thung Lũng Marne hơn là con đường tắt đi qua Montmirail mà hoàng gia đã xử dụng trong cuộc tẩu thoát.  Ngừng lại một chút để ăn tối ở Epernay. Tuy nhiên, một sự kiện nhỏ xảy ra trên đường phố. Phu nhân De Tourzel gần như bị kéo từ trong xe ra để hoà vào đám đông trước khi họ hối hả trở lại con đường cũ. Sau đó, vào khoảng 7.30 tối, khi con đường chạy bọc quanh con sông để vào vùng thôn quê, đoàn xe bỗng dừng lại và đám đông cũng lặng lẽ giãn ra khỏi con đường trước mặt. Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia ở Paris  đã gửi tới ba vị đại biểu và họ đang tới gần, dẫn đầu bởi một sĩ quan chưởng lý. Các đại biểu đã nhận được tin hoàng gia bị chặn tại Varennes gần 24 giờ trước và họ lập tức phái đi ba thành viên đại diện cho ba nhóm chính trị khác nhau trong hội đồng. Dẫn đầu là Antoine Barnave, một thành viên của nhóm Jacobin trung lập và là một tay hùng biện chỉ mới 29 tuổi và nhìn  bên ngoài còn trẻ trung hơn. Cùng đi với anh ta là Jérôme Pétion, có vẻ già dặn hơn, một nhà dân chủ đầy nhiệt tâm và là bạn thân của Maximilien Robespierre và nhóm Jacobins cấp tiến. Người thứ ba là Marie-Charles de Latour-Maubourg, một tay ủng hộ thể chế quân chủ và là bạn thân của Lafayette.  Sau một thời gian dài sợ hãi và đầy bất trắc, đám đàn bà trong xe  giờ tràn ngập xúc động khi thấy sự xuất hiện của ba vị này, những người mà trước đây họ thường khinh bỉ, nhưng giờ dường như mang lại cho họ sự an toàn. Bà phu nhân Elizabeth nắm tay họ cầu xin họ bảo vệ tính mạng cho ba tay cận vệ, trước đó đã bị hăm doạ hành hình tại chỗ. Sau vài lời an ủi, Barnave chính thức đọc quyết nghị của Hội Đồng ủy nhiệm cho họ bảo đảm nhà vua trở lại Paris an toàn.  Sau đó anh leo lên mui xe và, dưới ánh trời chiều, đọc lại quyết nghị một lần nữa cho đám đông  xung quanh. Đây thật là một giây phút lạ thường của Cách mạng đánh dấu rõ ràng một sự chuyển đổi chủ quyền từ nhà vua sang nhà nước.
Các đại biểu cũng được hộ tống bởi viên sĩ quan quân đội Mathieu Dumas, một người yêu nước trung lập và là cựu chiến binh trong cuộc Cách mạng Mỹ, bây giờ đang giữ trọng trách chỉ huy các đội ngũ vệ binh quốc gia, tái thiết lập vài điều khoản trật tự và mệnh lệnh trong cái diễn biến lớn lao này. Barnave và Pétion ngồi lẫn vào trong lòng cỗ xe lớn với đám trẻ giờ phải ngồi lên lòng mẹ. Anh chàng Maubourg cao lớn hơn tìm được chỗ cho mình chung với tỳ nữ khán hộ trên chiếc xe nhỏ. Họ ở lại đêm tại thị trấn nhỏ Dormans, lên giường ngay sau nửa đêm. Ngày hôm sau, khi đi ngang thị trấn Château-Thierry, Dumas đã khéo léo vận dụng tài khéo léo để bỏ lại một số lớn đám đông hộ tống vô trật tự tại một cây cầu. Nhờ thế, họ đã có thể nhanh chóng đi tới Maux nơi họ ở qua đêm 24 tháng Sáu tại nhà vị giám mục sở tại. Tuy nhiên, trong đêm, đám đông dâni và vệ binh cũng như người đi xem lại tụ lại  đông đảo trong thị trấn và đoạn hành trình cuối trở về thủ đô dưới sức nóng mùa hè lại bị chậm trễ và trở ngại như cũ. Pétion diễn tả: “Tôi chưa từng trải qua một ngày dài và mệt nhọc hơn thế.”
Khi đoàn di hành đi qua những vùng ngoại ô Paris, khí thế càng trở nên mãnh liệt hơn. Đã có nhiều cuộc họ  phối hợp tấn công vào cỗ xe chính, có lẽ nhắm vào đám cận vệ. Barnave và Pétion bắt đầu quan ngại cho sự an toàn cho người trên xe, họ đã phải la lớn kêu gọi sự bảo vệ từ  các vệ binh, những người vừa mới từ Paris đến. Hai viên sĩ quan bị thương khá nặng. Dumas gần như bị kéo xuống lưng ngựa trước khi họ tới được bức tường thành nơi Lafayette đón chào họ với một đội kỵ binh lớn. Đoàn xe được chỉ định trực chỉ đi quanh chu vi thành phố, né tránh những khu lao động và đi vào từ phía Đông Bắc ngang qua Champs-Élysées. Cả thành phố Paris theo dõi sát diễn tiến của đức vua. Hàng chục ngàn người nam phụ lão ấu dõi theo những sự việc dưới đường phố c ùng với hàng trăm người leo lên cả cây cối và mái nhà. Đoàn lữ hành ngồi trong xe ra vẻ  đã kiệt sức và cơ thể hôi hám bẩn thỉu, đầu tóc rối bù. Có vài tiếng vỗ tay hoan hô các đại biểu, 2 chàng Drouet và Guillaume và các vệ binh đến từ thị trấn Varennes qua một chặng đường dài và được bố trí  đi đầu trong cuộc diễu hành. Nhưng đám đông giữ yên lặng suốt buổi, không buồn giở mũ nón khỏi đầu để biểu lộ thái độ không  còn kính trọng hoàng gia. Cùng một cử chỉ khinh chê đó, nhiều hàng ngũ đội quân vệ binh quốc gia đứng dọc hai bên đường cũng quay ngược  nòng súng xuống đất. Không như các vùng khác, tại Paris, không ai nghe thấy lời chào tung hô truyền thống : “vạn tuế đức vua” như thường lệ. Đối với vua Louis, người luôn nhạy cảm với những lời tung hô của thần dân, điều này trở thành những phút giây buồn thảm ghê gớm.
Đi đến cuối đường, họ băng qua khu đại công viên, ngày nay được gọi là Place de Concorde, rồi tiến vào khu vườn Tuileries và dừng lại gần cổng vào cung điện. Trật tự bỗng gần như  tan vỡ  khi đám đông ùa tới bên cạnh xe trong một cố gắng bắt giữ đám hộ vệ.  Vật lộn khó khăn lắm, Dumas, Pétion cùng những viên sĩ quan khác mới đưa được ba tay cận vệ máu me thương tích đầy người ra chỗ an toàn. Cùng lúc đó, hoàng gia vội vã xuống xe bước nhanh vào cung điện Tuileries không  hề bị đụng chạm, cái lâu đài mà chỉ mới 5 hôm trước họ đã hy vọng trốn khỏi mãi mãi.

Hậu sự

Định mệnh thật lạ lùng! Nam tước Klinglin tuyên bố. Chỉ có hơn mười lăm dặm nữa thôi, khoảng một hai giờ xe ngựa  đi trong đêm tới  được Dun là hoàng gia đã có thể được bảo vệ an toàn dưới sự bảo bọc vủa viên tướng Bouillé và đội quân với hang trăm kỵ binh dung mãnh của ông ta. Ngay từ giây phút đầu tiên bắt giữ nhà vua, những người dự phần cũng như các nhân chứng cuộc trốn thoát tới Varennes  đã tự hỏi họ sai sót điều gì, vì sao mà thất bại và cuối cùng lỗi tại ai?  Ngay cả những người yêu nước mà đối với họ cuộc tẩu thoát thất bại là một chiến thắng lớn cũng phản ánh một cách sâu xa về cái vận mạng lạ lùng  trong việc giúp đỡ họ cản bước trốn chạy của  nhà vua nước Pháp một cách quá gần như vậy. Quả thực, nhiều thế hệ sử gia đã theo tư tưởng của họ tới những  thế giới khác nhau của lịch sử trái nghịch, suy nghĩ xem sự việc sẽ khác biệt ra sao nếu như nhà vua đã thành công đi tới được Montmédy?  Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như người  tỳ nữ trong cung điện không có lòng nghi ngờ để buộc hoàng gia phải hoãn lại thời điểm khởi hành; nếu như Lafayette không vào cung điện Tuleries để chuyện trò với nhà vua khá muộn trong đêm; nếu như vị bá tước de Choiseul đã cố nán lại thêm một giờ chờ đợi nữa ở tại bình nguyên kế cận  Somme-Vesle; nếu như Drouet ở lại cánh đồng thêm vài phút nữa trước khi trở về vị trí; nếu như các lái xe ngựa từ Clermont được thuyết phục, mua chuộc hay cưỡng ép để tiếp tục đi quá khỏi Varennes mà không cần đổi ngựa? Một loạt chữ “nếu như” dường như không dứt. Quả thật,  giống như hầu hết các biến cố lịch sử, sự kiện tại Varennes được tạo dựng lên như  một trong hàng loạt biến cố nhỏ nhoi khó xác định mà bất cứ  một biến cố nào trong đó cũng có thể đã  làm thay đổi kết quả trong ngày hôm ấy.
Dù vậy nếu người ta lui cái diễn biến lại một bước từ trong những trường hợp kể trên, từ những tiểu tiết của các hành động và phản ứng cá nhân, người ta có thể tranh luận rằng có 2 điểm chính đã tạo nên sự kiện lịch sử Varennes. Điểm thứ nhất là cái cá tính riêng và hành vi của nhà vua Louis, nhân vật trung tâm của cuộc mạo hiểm này. Tính thiếu quyết đoán thiếu tự tin trường kỳ của nhà vua đã ảnh hưởng sâu xa đến nguồn gốc và sự tiến hành của cuộc cách mạng. Khi cờ đến tay, một quyết định sớm sủa và kiên quyết cho việc vượt tẩu chắc chắn làm tăng thêm cơ hội thành công tối đa. Ngay cả sau tháng Tư 1791, khi Louis cuối cùng dường như chọn lựa việc trốn chạy, hành động đi trốn này cũng vẫn hoãn đi hoãn lại nhiều lần, cho dù mọi kế hoạch chuẩn bị đã sẵn sàng từ đầu tháng Năm hay sớm hơn.  Cứ mỗi ngày chậm trễ thì dường như cái âm mưu rất phức tạp rất dễ bị phát giác, như nó đã có lúc nào đó bị nghi ngờ vào đầu tháng Sáu bởi người tỳ nữ của hoàng hậu.  Cứ mỗi ngày hoãn lại kế hoạch thì dường như đám quân lính Pháp, dưới ảnh hưởng  lớn lao của các câu lạc bộ yêu nước, sẽ từ chối tuân lệnh các viên chỉ huy thuộc tầng lớp quý tộc của họ và họ sẽ phản ứng mãnh liệt để ngăn chận bất cứ hành động nào có những mục đích mà  họ không chấp nhận. Trong những tháng ngày trước khi việc tẩu thoát bắt đầu, viên tướng Bouillé đã tỏ ra bi quan hơn về độ đáng tín nhiệm của binh lính và tính khả thi của toàn kế hoạch trốn chạy. Cuối cùng, quyết định của ông ta  dựa vào đám kỵ binh ngoại quốc nói tiếng Đức đã gây nên mối nghi ngờ lớn lao đối với dân làng và các thị trấn nhỏ  khi họ nhìn thấy cách họ chuyển quân.  Nhưng ngay cả như vậy, màn trốn chạy vẫn có cơ hội vượt thoát nếu như nhà vua đã không đánh đố số mạng bằng việc ngồi trên chiếc xe thả rèm che cửa bít bùng rồi sau đó lại bước ra khỏi xe tự lộ diện cho khách qua đường trông thấy. Dĩ nhiên, những hành động như thế rất gần gũi với việc nhà vua thiếu nhận thức về ý nghĩa thực sự và sức lôi cuốn mạnh mẽ của cuộc Cách Mạng. Nhà vua giả thiết rằng những thay đổi cách mạng đáng ghét đó chẳng qua  là do sự kích động xúi giục đám dân Paris  bần cố  mù quáng  bởi một số ít bọn cấp tiến trong cái Hội Đồng Quốc Gia  mà chúng đang kiểm chế.
Nhưng cái nguyên cớ cơ bản thứ hai của biến cố thất bại tại Varennes gây ra từ cuộc Cách Mạng chính là sự biến đổi sâu rộng trong thái độ và tâm lý của người dân Pháp. Một cảm giác tự tin, tự cậy, tự chủ với đất nước như một khối nguyên vẹn chứ không đơn giản là một cộng đồng địa phương. Sự biến đổi mà ta có thể thấy ở tại thị trấn Varennes nhỏ bé đã thấm nhập vào đa số người dân Pháp. Sự phát triển này  giúp ta giải thích được những diễn biến lạ thường của các viên chức cấp địa phương tại Sainte-Menehould và Varennes dám đứng ra ngăn chận nhà vua. Mặc dù những hành động cá nhân của Drouet và Sauce không thể  bị đánh giá thấp, nhưng các hành động của họ có lẽ khó xảy ra nếu không có sự ủng hộ của hội đồng thị xã và nói cho đúng là toàn thể công dân. Việc sẵn sàng ủng hộ cũng có thể suy đoán hơn nữa bởi những di chuyển bất thường và khó giải thích của đám lính kỵ binh đánh thuê trong những ngày trước khi có cuộc trốn chạy và từ sự nghi ngờ  tiềm tàng của dân chúng  đối với đám sĩ quan quý tộc chỉ huy bọn chúng. Những điều kiện gần như phiến loạn đã hiện hữu sẵn ở cả 2 nơi Sainte-Menehould và Claremont trước khi đoàn xe của nhà vua đi đến. Mercy-Argenteuil đã không sai lầm khi anh ta cảnh báo hoàng gia rằng,”Trong bối cảnh của tinh thần cách mạng mới, mỗi làng phố có thể là một chướng ngại khó vượt qua trên bước tiến của các ngài”.

Quả thực, từ cái quan điểm đó, câu hỏi thực sự sẽ không là tại sao cuộc trốn chạy thất bại mà sẽ là nó đã suýt thành công như thế nào. Những thành tựu ngoạn mục của hoàng gia trong việc thoát ra khỏi cung điện Tuileries không bị phát hiện, lại thoát ra khỏi một thành phố Paris đầy nghi kỵ và rồi du hành trên những con đường chính tới một nơi chỉ còn cách biên giới nước Áo vài chục dặm, tất cả chứng tỏ một tài năng tổ chức tài giỏi của Bouillé và trên hết là của Axel von Fersen. Hợp tác làm việc với nhau, hai người đã tiến gần sát đến sự thành công có thể được xếp vào hàng những cuộc trốn chạy vĩ đại nhất trong mọi thời đại.

khi nhà vua chạy trốn - chương 4


Chương 4: Thành phố Paris


Thành phố Paris khi hoàng gia trở lại vào ngày 25 tháng Sáu nơi họ  cho rằng mình đang bi giam lỏng, tự nó đã là một thế giới riêng, khác hẳn với những thành phố hay thị trấn khác trong khắp vương quốc Pháp. Với cư dân khoảng 700,000 người, Paris là thành phố lớn thứ nhì trong số các thành phố của Thiên Chúa Giáo và là một trong mười thành phố lớn nhất thế giới. Nếu có ai leo lên một cái tháp của nhà thờ Đức Bà, vương cung thánh đường nằm trên một hòn đảo giữa lòng sông Seine ngay giữa trung tâm thành phố, họ sẽ cảm nhận được hết mọi sự đa dạng lạ thường của cái thế giới đông đúc, rộn rã và phức tạp này. Từ trên cao điểm này, người quan sát dễ dàng nhận ra những kiến trúc cổ kính của Paris mà ngay từ thế kỷ 18, du khách đã kéo nhau đến thăm viếng: Hội Trường Công Lý Gothic vĩ đại ở ngay  sát phía Tây, nơi trước đó quốc hội Paris hội họp; Hội Trường Thành Phố Phục Hưng lộng lẫy  ở phía Bắc bên kia bờ sông; mái vòm Baroque của viện Hàn Lâm Pháp ở xa xa phiá Tây dọc theo bờ sông; và ngay phía đối diện là cấu trúc đồ sộ của lâu đài Louvre cùng những kiến trúc phụ thuộc trải dài  của toàn thể cung điện Tuileries.

Bên cạnh những đại tháp và pháo đài to lớn của các kiến trúc dân chính, người ta có thể đếm được không ít hơn 200 tháp chuông lớn nhỏ của các nhà thờ công giáo được xây dựng lên trong nhiều thế kỷ, nhiều cái hiện đã bị Cách Mạng tịch thu cùng với nhiều tài sản và doanh thu của giáo hội. Ở phía Tây nói chung, và ở một số khu vực nhỏ tại nhiều vị trí trong thành phố, du khách cũng còn có thể nhận ra những đốm trắng với những kiến trúc mới mẻ hơn xen lẫn một vùng xanh ngát. Đây là những ngôi nhà tân thời (town houses) và các khu vườn mà có lẽ  là nơi tập trung đông đảo nhất các gia đình quý tộc của cả Âu Châu.  Mặc dù Cách Mạng đã xoá bỏ những ưu tiên về luật pháp và chính trị mà đám quý tộc được hưởng lợi trước đó, nhưng không như giới giáo sĩ, họ vẫn giữ lại được hầu hết các tài sản to lớn cũng như cái ảnh hưởng văn hoá của họ.

Bên cạnh những kiến trúc biểu tượng sự sung túc và quyền lực trên, đa phần thành phố trông có vẻ xám xịt hơn và hơi loè loẹt, một đống hỗn tạp những kiến trúc nhiều tầng nhỏ hơn, cái thì hơi nghiêng ngả, cái chồng chất như chống đỡ nhau. Đặc biệt, những cụm nhà của dân lao động có thể thấy ở những vùng ngoại ô phiá đông: đáng kể nhất là khu vực Saint-Antoine nằm nhô ra  ở mạn Đông như một mũi dao nhọn cắm vào miền quê từ cái quảng trường đã từng là nhà ngục Bastille giờ đã bị phá huỷ. Ở khu Saint-Marcel phụ cận, xóm nhà co cụm dọc theo một khúc quanh của nhánh sông nhỏ Bièvre trước khi nhập vào sông Seine từ phía Đông Nam.  Fersen đã cẩn thận né tránh khỏi những khu vực này khi anh ta lái xe đưa hoàng gia trốn khỏi thành phố  vào rạng sáng ngày 21 tháng Sáu. Nhưng những nhà cửa tương tự có thể thấy ở hầu như khắp thành phố, thường tiếp giáp trực tiếp với các lâu đài và nhà thờ. Đây là nơi ở của khối lượng lớn người dân lao động Paris, những người trước đây tự gọi là “giai cấp thứ ba.”

Một số cá nhân trong đó, có lẽ chừng 100,000 người rải rác, họ sống thoải mái và có cuộc sống ổn định trong những gia đình là công chức, có nghề nghiệp chuyên môn, lái buôn, chủ tiệm hoặc thủ công có tay nghề cao. Một số đáng kể trong nhóm người này sinh trưởng tại thành phố và vì thế đàn ông và hầu hết đàn bà đều có học. Đám người cốt lõi này được coi là giai cấp trung lưu và họ tập trung  tại đây đông hơn những nơi khác trong cả nước gộp lại và họ đã cung cấp vai trò lãnh đạo địa phương cốt lõi cho cuộc Cách Mạng. Nhưng đa số ngưòi dân Paris  có cuộc sống rất bấp bênh. Họ là những công nhân cửa tiệm, người lao động thuê, bán hàng dạo, đi giặt mướn, đầy tớ và cả đĩ điếm với chừng 40,000 người: công việc bấp bênh lúc có lúc không, thất nghiệp, thất cơ lỡ vận. Nhiều người trong số là di dân đến từ những vùng có tập quán hỗn tạp với âm giọng khác biệt từ khắp các vùng miền của đất nước và cả nước ngoài. Một số có năng khiếu hay tài buôn bán, họ lập tức hoà nhập vào cuộc sống hàng ngày. Số còn lai thì thất học và không nghề nghiệp, sống trôi nổi bấp bênh và đáng thương hại. Đó là sự đặt kề bên nhau số lượng lớn giữa cái vĩ đại và cái nhỏ nhoi, cái sung túc và cái bần hàn, cái học thức cao và cái mù chữ và cả mọi thứ ở  khoảng giữa hai thái cực   mà nó mang lại cho thành phố Paris một sắc thái rất đặc biệt. Quả thực, Sébastien Mercier, một nhà quan sát từng sống lâu năm tại Paris vào thế kỷ 18 đã diễn tả khá đúng về cái thành phố này như “ một nồi hòa tan mọi thứ  của nhân loại”.

Mặc dù nhà vua thích hoang tưởng rằng sự bất ổn của Paris kể từ 1789 chỉ là sự quấy động của một thiểu số nhỏ Jacobins và những kẻ kích động, đã có chứng cớ rõ ràng về tác động của cuộc Cách mạng lên mọi thành phần xã hội Paris. Du khách nước ngoài ghé qua thành phố vào những năm 1790-1791 đã thấy được những dấu hiệu bên ngoài của sự biến đổi này: các thảo luận về chính trị xảy ra ngay trên đường phố cả trong số những khách lạ; những huy hiệu yêu nước ba màu xuất hiện trên ngực hay trên nón  của cả nam lẫn nữ, báo chí và truyền đơn Cách Mạng được bán và phân phối khắp nơi; những bài hát yêu nước trổi lên vào khoảng tạm nghỉ giữa các buổi nhạc kịch phổ thông. Sự chính trị hoá trong đời sống hàng ngày của người dân Paris là một phần của một diễn tiến cách mạng đã ảnh hưởng tới dân quê và cư dân thị trấn Varennes suốt 2 năm trước đó. Hầu như ở khắp mọi nơi, cuộc công kích của Hội Đồng Quốc Gia chống lại cơ cấu chế độ cũ nhân danh chủ quyền và sự bình đẳng về tay nhân dân đã khuyến khích nam nữ già trẻ đặt câu hỏi về chủ quyền và sự bất công một cách tổng quát hơn. Thế nhưng tại Paris, cái lý luận về dân chủ và bình đẳng đã nhanh chóng thúc đẩy một phần dân chúng tới những hy vọng cả ngàn năm cho một biến đổi căn nguyên của thế giới.
Sự cấp tiến hoá lạ thường này lúc đầu nối kết với kinh nghiệm của thành phố vào thế kỷ 18 như một chiến trường về văn hoá là có thật. Những cuộc đấu tranh chính trị của quốc hội Pháp chống lại các chính sách tài chính và tôn giáo của vương triều, phong trào bất đồng chính kiến của tư tưởng Jansen chống lại nền tảng Công Giáo và cuộc đấu tranh về trí tuệ của các triết gia thời khai sáng chống lại chủ nghĩa (ưu đãi) phẩm trật giáo hội và mù quáng với mọi hình thức đã làm cho Paris căng thẳng hơn bất cứ nơi nào trên đất Pháp cũng như cả Âu Châu. Quả thật, Paris được thừa nhận là thủ đô của thời kỳ Khai Sáng,  lôi kéo trí thức  trong suốt vùng Đại Tây Dương tề tựu đến các sảnh đường, các quán cà phê và các nhà xuất bản của nó. Các phong trào vô cùng phức tạp và thường mâu thuẫn nhau này đã ảnh hưởng nhiều yếu tố lên  số dân Paris có học thức một cách lạ thường, giúp tạo nên một bầu không khí ắp đầy những tư tưởng độc lập và cốt yếu.

Nhưng sự cấp tiến hoá Paris cũng được  thắt chặt vào những phát triển gần nhất. Vào khoảng đầu năm 1791, Paris đã bão hoà với  hàng chục nhật báo và vô số những xuất bản bất định kỳ khác. Nền báo chí như vậy đã nối khớp hầu hết mọi vị trí của bối cảnh chính trị lại.  Nhiều khu vực trong thành phố, giọng điệu và chất lượng của việc tranh luận ngày càng chịu ảnh hưởng bởi một nhóm tác giả cấp tiến đặc biệt có tài năng như Camille Desmoulin, Jean-Paul Marat, Nicolas de Bonneville, vợ chồng Louise Kéralios, François Robert, những người luôn cổ võ cho những nguyên tắc dân chủ và bình đẳng lan rộng hơn. Tại hầu hết tờ báo  tại Pháp, dù cấp tiến hay không, thường có hiệu quả trực tiếp nhỏ nhoi lên đại đa số nam nữ dân chúng những người ít có cơ may tới gần với chữ in. Tuy nhiên ở tại Paris, không chỉ cư dân có học thức đặc biệt đông, mà vẫn có nhiều phương tiện khác mà dân thất học có thể tiếp cận các bình luận chính trị mới nhất. Những người này thường tụ họp trong hơn 700 quán cà phê trong thành phố, đã có thể nghe được tin tức báo chí và truyền đơn được phát thanh và bình luận hàng đêm bởi một trong những nhà diễn thuyết hàng đầu. Những người khác được thông tin, hay thông tin bóp méo, về các sự việc trong ngày bởi hàng trăm người bán báo dạo lang thang khắp thành phố. Họ liên tục rao lớn những tựa đề báo hoặc đưa ra những diễn dịch đầy cảm tính về những tựa đề đó, những chuyện nóng bỏng nhất để bán báo. William Short, người bảo trợ của Thomas Jeđerson và là một đại diện của Hoa Kỳ tại Paris đã rất kinh ngạc với cái ảnh hưởng lạ thường của dòng báo chí phổ thông. Ông viết cho Jefferson: “ Những tờ báo này được rao bán  khắp thành phố và được bán rẻ hoặc biếu không cho người dân và họ đọc ngấu nghiến với một lòng khao khát đáng kinh ngạc. Ông Mercier cũng ngạc nhiên với tầm ảnh hưởng to lớn của những người bán báo mà rất đông trong số họ mù chữ: “Những đề xuất luật pháp đơn giản bỗng được biến thành các nghị định chính thức và toàn thể các khu xóm đã rất giận dữ với những biến cố không bao giờ xảy ra. Dù bị dắt mũi cả ngàn lần vì những thông báo sai lệch của đám bán báo dạo này, thường dân lao động vẫn tiếp tục tin họ.”

Cuối cùng, chủ nghĩa cấp tiến Paris đã ảnh hưởng từ  ngày đầu cuộc Cách Mạng bởi một sự phát triển lạ thường của các hội đoàn chính trị.  Chúng ta đã thấy tầm ảnh hưởng của câu lạc bộ yêu nước địa phương tại Varennes và các vùng phụ cận. Tại Paris, vào thời điểm nhà vua tẩu thoát, có không ít hơn 50 hội đoàn như vậy. Một số trong nhóm này, giống như đa số các câu lạc bộ tại các tỉnh lỵ, tương đối có vẻ ưu tú với những lệ phí cao giới hạn hội viên thuôc giai cấp trung lưu hay thượng lưu. Đây là trường hợp của câu lạc bộ Jacobin thường hội họp bên hữu ngạn sông Seine cách Hội Đồng Quốc Gia và cung Điện Tuileries một quãng không xa và là hội mẹ của toàn thể mạng lưới “Thân Hữu của Hiến Pháp” của cả nước. Vẫn còn nhiều câu lạc bộ Paris được tạo nên chuyên biệt để thu hút các thành phần xã hội thấp kém hơn, những công dân “thụ động” này mà Hội Đồng Quốc Gia đã  dùng tiêu chuẩn về tài sản để loại trừ  họ  ra khỏi việc đi bỏ phiếu và
nắm giữ các chức vụ hành chính.

Không có nhóm Paris nào tích cực tuyển mộ các giai cấp thấp tham gia vào hoạt động chính trị hơn được Hội Thân Hữu về Nhân Quyền, được biết đến trong lịch sử như câu lạc bộ Cordeliers. Họ thường tập trung hội họp bên tả ngạn sông Seine kế cận khu phố Latin và ngay trung tâm các nhà xuất bản, các thành viên bao gồm một nhóm trí thức cấp tiến như Desmoulins, Marat, Robert và Georges Danton và một đội ngũ đáng kể những thương gia địa phương, nam nữ nghệ nhân. Ngay từ lúc đầu, nhóm Cordeliers đã đeo đuổi một chương trình nghị sự song song: một mặt cổ võ cho sự bành trướng dân chủ và bình đẳng cũng như bảo vệ các quyền lợi của  người dân. Mặt khác là diệt trừ tận gốc các mầm mống âm mưu mà hầu hết họ cho là đe doạ đến cuộc Cách Mạng. Nhưng nhóm này chỉ là nhóm lâu đời và nổi tiếng nhất trong số hơn 30 “hội  thân hữu anh em” thuộc các hiệp hội dân chủ phổ thông nổi lên Paris trong khoảng 1790-1791.  Một số phát triển quanh những cá nhân có tham vọng làm  lãnh đạo trong các khu vực đặc biệt của thành phố. Số khác, chẳng hạn như hội “anh  em nghèo khó” đã được chính nhóm Cordeliers cổ động vào đầu năm 1791 với mục tiêu đặc biệt là huy động khối quần chúng ủng hộ cho học thuyết chính trị bình quyền của họ. Tất cả các hội thân hữu anh em này muốn đấu tranh đạt được quyền bầu cử và nắm giữ chức vụ hành chánh cho mọi nam công dân bất kể có tài sản hay không.  Nhiều nhóm còn cho phép nữ giới tham gia.  Một số còn đòi hỏi gia tăng vai trò cho phụ nữ yêu nước một cách phổ quát hơn.  Vào mùa xuân 1971, Franҫois Robert và Cordeliers đã cố gắng điều hợp những hoạt động của tất cả các hiệp hội này quanh một uỷ ban trung tâm. Như vậy, hội Thân Hữu cho Nhân Quyền đã đi đến con đường tạo dựng nên một mạng lưới các câu lạc bộ  chính trị có bản doanh  đặt tại Paris hoạt động song hành với mạng lưới quốc gia của nhóm Jacobins.

Một nhóm các hiệp hội đô thị thứ hai đã phát triển quanh 48 khu phố Paris. Lập nên từ mùa xuân 1790 để thay thế các quận lỵ cũ, các khu phố được thiết kế như những đơn vị bầu cử cho sự lựa chọn từng thời  kỳ của các viên chức hành chính. Nhưng đến đầu năm 1871, họ hội họp liên miên, cố kiểm soát một loạt các công việc khu phố và thường trực nêu ý kiến về những vấn đề chính trị trong ngày. Mặc dù hội viên được giới hạn trong các công dân nam chủ động, ban lãnh đạo cũng gặt hái được những sợi dây thân thiết với các cộng đồng địa phương, cho họ vay mượn một đặc tính cơ sở chắc chắn. Quả thực, nhiều khu phố với số lượng lớn cử tri thuộc thành phần lao động đã thừa nhận các vị trí dân chủ và bình đẳng không khác với nhóm Cordrliers và các hội thân hữu là mấy. Quyền lực và ảnh hưởng của họ càng lớn mạnh hơn sau khi  họ bắt đầu liên lạc với nhau và cùng hội họp để điều hợp các chích sách. Vào mùa xuân 1791, cả hai bộ phận các khu phố và các hiệp hội đã trở nên những cơ cấu có ảnh hưởng về sự độc lập ngày càng gia tăng bên ngoài Hội Đồng Quốc Gia và chính quyền thành phố Paris trung ương.
Vào những tháng trước cuộc tẩu thoát của nhà vua, một loạt các phát triển đã làm cho những khu vực quanh Paris trở nên lúng túng và đáng nghi ngại hơn.  Một làn sóng lớn các cuộc đình công và những hoạt động tập trung của công nhân đã làm cho thành phố gần như liên tục hỗn loạn trong suốt mùa đông và mùa xuân. Công nhân nam nữ bị quấy rầy, một phần vì giá cả gia tăng quá nhanh chóng, lại càng bị kích động thêm với việc chính quyền phát hành in thêm hàng đống tiền giấy.  Tuy vậy, sự bất ổn cũng có thể do chính những diễn tiến của cuộc Cách Mạng khi những công nhân làm thuê mướn tạm thời áp dụng lý luận bình đẳng vào cái hệ thống lao động mà những người khác đã dùng để chống lại hệ thống chính trị và xã hội.  Nhiều người trong đám lao động này được khuyến khích trong cuộc tranh đấu tháng Ba 1791 khi Hội Đồng Quốc Gia chính thức  từ bỏ hệ thống bang hội, một cơ cấu đã cấp cho những đại nghệ nhân  quá nhiều chủ quyền. Tuy nhiên, chỉ một ít ngày trước cuộc tẩu thoát của nhà vua, Hội Đồng đã  phê chuẩn một nghị định không có lợi cho giới công nhân, điều luật Le Chapelier đặt các hiệp hội công nhân và  sự thương lượng tập thể ngoài vòng pháp luật.

Cả tầng lớp lao động và trung lưu cũng thấy bất ổn vì những tin đồn liên tục về các âm mưu phản cách mạng. Nỗi lo sợ dấy lên vì những tuyên bố dồn dập của đám quý tộc đã chạy ra ngoại quốc hăm doạ sẽ vượt qua sông Rhine quay về  quang phục và vì những âm mưu rất thực và công khai xảy ra hàng ngày trong suốt 2 năm đầu của cuộc Cách Mạng.  Những sự căng thẳng như vậy càng trầm trọng thêm bởi một số lớn quý tộc còn lại trong thành phố, nhiều người trong số họ có câu lạc bộ và nhà xuất bản riêng. Đám quý tộc này lại liên hệ chặt chẽ với nhóm thiểu số bảo thủ có mặt trong Hội Đồng Quốc Gia. Sự thành lập câu lạc bộ Quân Chủ vào cuối năm 1790 với hội viên đa số là thành phần quý tộc và hàng giáo sĩ dường như là một chứng cứ rõ ràng về một mưu đồ muốn thiết lập lại tất cả các sự lạm quyền của chế độ cũ. Có lẽ phiền phức hơn nữa là sự việc tách rời tôn giáo với sự vận động thi hành một Hiến Pháp Dân Sự cho hàng giáo phẩm và sự đòi hỏi một lời  tuyên thệ trong tầng lớp giáo sĩ.  Khoảng 34% giáo sĩ tại thủ đô và các vùng ngoại ô từ chối tuyên thệ. Đối với cư dân Paris cũng như cư dân Varennes, đám giáo sĩ cứng đầu rõ ràng là biểu hiệu của những lực lượng phản cách mạng đang manh nha tiềm ẩn. Sự lo sợ về một âm mưu nào đó của giới giáo sĩ ương ngạnh và đám quý tộc là nguyên nhân cơ bản dẫn đến những bạo loạn tại Paris suốt cả mùa đông và mùa xuân.

Trách nhiệm quản trị và kiểm soát cái thành phố  hỗn loạn và đầy căng thẳng này rơi vào tay của 2 nhân vật chủ chốt, cả hai được chính Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia chọn lựa vào tháng 7 năm 1789: Jean-Sylvain Bailly thị trưởng, và hầu tước La Fayette tổng tư lệnh vệ binh quốc gia. Là một nhà thiên văn học nổi tiếng, thành viên của Hàn Lâm Viện Pháp đầy uy tín và một thời đã từng là bạn của Voltaire và Benjamin Franklin, Bailly đã thêm nổi danh về chính trị như người có khả năng ngoại hạng để trở thành vị chủ tịch đầu tiên của Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia. Anh chàng hầu tước trẻ hơn nhiều, với tuổi đời chỉ mới 33 ở thời điểm Varennes, đã nổi danh không chỉ với những thành quả của ông trong cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ mà cả trong những liên hệ của ông trong hàng loạt các hoạt động tự do tại nước Pháp vào những ngày tiền Cách Mạng. Vào năm 1791, Bailly và Lafayette đã có trong tay một lực lượng trên 50,000 vệ binh quốc gia. Khoảng 10,000 trong số này là hiện dịch, có trả lương và sống trong quân ngũ, hầu hết là những cựu chiến binh. Số còn lại là lính tình nguyện trừ bị chỉ thay phiên nhau phục vụ hay trong tình trạng khẩn cấp. Bởi vì quân tình nguyện trừ bị được yêu cầu tự cung cấp quân trang quân phục và phải có thì giờ rảnh rỗi cho việc huấn luyên quân sự cơ bản, nên đa số họ là thành phần giai cấp trung lưu. Mặc dù toàn lực lượng nghe có vẻ ấn tượng và còn lớn mạnh hơn bất cứ gì hiện hữu trong chế độ cũ, nó không phải là không có vấn đề. Điều nghi ngại tương tự về thẩm quyền thường xảy ra trong hàng ngũ quân lực cũng có tác động lên khối vệ binh quốc gia. Việc một số đội ngũ vệ binh từ chối không cho hoàng gia rời khỏi cung điện Tuileries hôm 18 tháng Tư, cho dù đã có lệnh chính thức cho phép của Lafayette đã chứng tỏ điều này. Nhưng từ sau sự việc 18 tháng Tư này, viên tướng tư lệnh đã được rảnh tay để cải tổ hàng ngũ quân đội với  sự áp đặt kỷ kuật cứng rắn hơn qua sự sa thải các vệ binh bướng bỉnh.

Trong suốt nửa đầu năm 1791, vệ binh luôn hoạt động tích cực, can thiệp hầu như mỗi ngày vào đủ loại các chống đối của công nhân, tranh chấp tại thị trường và các cuộc bạo loạn chống lại giới giáo sĩ hay quý tộc bị đồn thổi là có âm mưu phản Cách Mạng và gây nội chiến. Những người dân Paris bàng quang và du khách ngoại quốc bị ám ảnh bởi những hỗn loạn không ngớt xảy ra. Sự đe doạ thường trực và cái thực tế về bạo động xã hội cứ vây bủa thành phố như những vụ bạo động hôm 28 tháng Hai và 18 tháng Tư chỉ là những thí dụ bi thảm nhất. Viên mật vụ người Anh William Miles thố lộ: “Đe doạ xảy ra hàng ngày, Lafayette và những phụ tá của ông cứ chạy  lanh quanh như người phát thư.” Viên đại sứ Anh, bá tước George Granville Grove tường thuật rằng “đất nước này đang trải qua một tình trạng hoàn toàn vô chính phủ.” William Short thì cho rằng những hỗn loạn không bao giờ dứt tạo nên  sự buồn thảm và lo lắng cho xã hội Paris, rốt cuộc gây những đớn đau cực độ cho chính cư dân  của nó.  Ông già người Paris Guittard de Floriban có cùng cảm giác: “Bộ chúng ta không bao giờ có thể hạnh phúc với chỉ đơn giản sống hoà bình với nhau được sao? Những bạo loạn làm cho tôi cảm thấy hụt hẫng và tuyệt vọng.” Vào cái đêm có biến cố Varennes, Paris đã ở trong tình trạng nguy hiểm bạo loạn sẽ bùng nổ từ mgày này qua ngày khác.

Louis bất tín


Trong nhiều tháng đã có những tin đồn về một âm mưu bắt cóc nhà vua lan khắp thành phố Paris. Một vị đại biểu Hội Đồng đã báo cáo về những đe doạ như thế đã có từ tháng Giêng, và báo chí cũng có những bài tường thuật tương tự từ tháng Hai và trong suốt mùa xuân. Mặc dù chi tiết của  âm mưu đó thường rất mù mờ, giả thiết vẫn thường là một ai đó, một thế lực ngoại quốc, một đám quý tộc chẳng hạn, và  có lẽ ngay cả hoàng hậu cũng đang toan tính bắt cóc nhà vua ngược lại ý muốn của ông. Ngay trong đêm đi trốn, nhà báo cấp tiến Stanislas Fréron đã tường thuật những tin đồn lan toả quanh thành phố rằng hoàng hậu Marie-Antoinette cùng với cô chị (em) gái Elizabeth của vua đã thực sự tổ chức cuộc vượt thoát. Marat còn dựng ra một phiên bản mù mờ hơn về chuyện này bằng những vẽ vời thêm những lời tiên đoán của ông ta về ngày tận thế. Theo lời tố cáo của một trong những tỳ nữ của hoàng hậu, Lafayette và các viên sĩ quan  đã gia tăng số lượng vệ binh canh gác hoàng cung.  Ngoài ra còn có rất nhiều tin đồn trong thành phố  trong nhiều tháng trước đó, chẳng có tin nào có thực chất để người ta lưu ý kỹ đến những lời tố cáo vô căn cứ đó.

Dù sao, vào lúc 7 giờ sáng ngày 21 tháng Sáu,  những người phục vụ trong hoàng cung Tuileries cũng rất kinh ngạc khi họ vào phòng ngủ của nhà vua và thấy giường ngủ trống trơn. Lúc đầu, họ hy vọng có lẽ nhà vua chỉ đi qua phòng hoàng hậu. Nhưng khi họ thấy giường ngủ của bà không hề có dấu  bà nằm ngủ trong đêm và cả các con vua và phu nhân Elizabeth cũng biến mất, toàn thể hoàng cung xảy ra một sự hỗn loạn. Nhiều nhân viên phục vụ vội vàng thay đổi thường phục và trốn ra khỏi lâu đài vì lo sợ bị tố tội thông đồng. Vào lúc Bailly và Lafayette đi vào cung điện, được thông báo về tin đồn thổi mà lúc đầu họ không tin, thì tin tức đã lan ta khỏi hoàng cung và được loan truyền trên đường phố với tốc độ chóng mặt. Một cư dân Paris nhớ lại trải nghiệm này: “Tôi nghe có tiếng gầm thét đang tới gần, tựa như tiếng sóng gào của một cơn bão tố đang tiến tới. Càng lúc càng gần hơn, vang dội hơn và nó lướt qua với một sức mạnh còn ghê gớm hơn.” Viên thẩm phán trẻ Félix Faulcon, đại biểu đơn vị Poitiers còn đang viết lách trong phòng khi ông nghe thấy tiếng la hét ngoài đường và ngay nhà bên cạnh và rồi ông nghe có câu nói là nhà vua đã biến mất. Một đại biểu khác, sử gia Antoine Thibaudeau đã thức giấc vì tiếng súng đại bác bắn bên bờ sông Seine. Không lâu sau đó, mọi người đều ra trước cửa sổ hỏi thăm nhau tin tức từ nhà qua nhà và từ những người dưới đường phố. Trong khoảng  thời gian 8 đến 9 giờ sáng khi tin tức đã lan, nhà thờ ở khắp nơi trong thành phố bắt đầu đổ chuông. Khi tiếng trống báo điềm bất tường nổi lên kêu gọi lực lượng vũ trang chuẩn bị, người ta hối hả kéo nhau ra phố để tham gia vào các đội ngũ lực lượng vệ binh quốc gia, nhiều người vừa chạy vừa chỉnh trang quân phục.
Nhiều người chạy vội tới hoàng cung để tận mặt chứng kiến. Vào khoảng 8 giờ rưỡi, một đám đông khổng lồ đã ào qua cánh cổng Tuileries và  leo lên những bậc thang tiến đến các phòng ốc của hoàng gia, vừa hăm doạ vừa  nhục mạ những bảo vệ và các người phục vụ chưa kịp rời cung.  Người lính gác được chỉ định bảo vệ em gái nhà vua bị xô vào tường đe doạ cho tới khi đám đông được chỉ cho thấy có một cánh cửa bí mật ở phía sau một kệ sách. Có báo cáo là có người đã phá hủy những bức hoạ của hoàng gia cùng một số bàn ghế trong phòng hoàng hậu. Nhưng đa phần, đám đông chỉ đứng quan sát và trò chuyện cùng nhau. Khi các viên chức thành phố đến khẩn thiết yêu cầu được niêm phong mọi vật dụng để bảo toàn chứng cớ thì đám đông đã giải tán.  Vài nơi khác, một nhóm những người đối nghịch đã bao quanh Bailly và Lafayette, hai người lúc đầu phải chịu trách nhiệm cho màn tẩu thoát, trong khi 2 người đang cố gắng để đi đến sảnh đường thành phố. Nhưng viên tướng tổng tư lệnh điềm tĩnh giữ vững vị thế của ông và đưa viên thị trưởng tới chỗ an toàn chỉ với vài vệ binh bảo vệ. Công tước D’Aumont, viên sĩ quan chỉ huy đội bảo vệ hoàng cung trong đêm đó thì không được may mắn như vậy. Ông bị đám đông lùa ra một góc  và bị đánh đập tơi bời đến nỗi áo quần tả tơi trước khi có một đơn vị bán quân sự giải cứu. Ở những vùng khác trong thành phố, tin đồn lan ra rằng các nhà tù đang giam giữ thành phần phản cách mạng nguy hiểm không bao lâu nữa sẽ bị phá vỡ và họ sẽ tấn công mọi người. Các lực lượng vũ trang thành phố phải mau tới để ngăn cản một cuộc tàn sát có khả năng sẽ xảy ra.
Tuy vậy nói chung, sau cơn sốc và kích thích đầu tiên, thành phố vẫn giữ nguyên điềm tĩnh và hầu hết người quan sát đều bình luận rằng phản ứng tương đối ôn hoà. Viên đại sứ Tây Ban Nha viết: “Có một sự hoàn toàn yên tĩnh ở đây như là một hình thức  kinh ngạc đến sững sờ, dường như mọi người vẫn cảm thấy hoài nghi.” Một phóng viên ngoài đường phố của tờ báo Le Bibillard quan sát: “Chưa bao giờ Paris lại có cảnh tượng vừa đầy xúc động lại vừa điềm tĩnh như thế. Đặc biệt thường dân đã giữ nguyên trật tự.” Một ký giả người Đức tên Konrad-Engelbert Oelsner lại tự hỏi về cái bầu không khí rất kiên định và hầu như lạc quan vui vẻ đang ngự trị trên đường phố: “Đã có những chuyển động và sự hiếu kỳ nhưng không hề có sự phá hủy hay mất trật tự. Sự phẫn nộ tự biểu hiện qua sự hài lòng vui thích nhiều hơn là sự cay đắng. Người người hỏi thăm nhau, kể lể cho những người chưa nhìn thấy trước đó, rồi tranh luận và hài hước. Một biến cố lạ thường ảnh hưởng đến toàn thể cộng đồng, cướp đi những công việc thường ngày của cả triệu người, kéo họ ra khỏi những quan tâm nhỏ nhoi nhưng lại mang họ đến gần nhau hơn.” Nói ngắn gọn, một âm mưu thực sự khi trở thành công khai lại trở nên ít gây rối loạn hơn những tin đồn và những nỗi lo sợ có các âm mưu trước đó.
Rõ ràng, một trong những điểm chính dẫn đến việc quần chúng kiềm chế là cái hành động kịp thời và mạnh mẽ của giới chức thẩm quyền thành phố. Được Bailly vội vã triệu tập vào 10 giờ sáng, hội đồng thành phố họp liên tục trong vòng 6 ngày kế tiếp. Các thành viên hội đồng đã nhanh chóng thiết lập những mối dây liên kết với Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia nơi có một số nhân viên được chỉ định đi qua đi lại từng giờ. Họ cũng cố gắng làm việc gần gũi với các uỷ ban từng khu vực. Mỗi uỷ ban được mời cử hai đại diện đến sảnh đường thành phố để bảo đảm sự liên lạc với các chính quyền địa phương. Bằng cách này, các luật lệ mới được Hội Đồng quyết nghị cho việc  giải quyết cuộc khủng hoảng được nhanh chóng tuyên bố tới mọi ngõ ngách của thành phố.  Thêm vào đó, Baily cùng các nghị viên cũng mau chóng điều tra tham khảo đến cả những tố cáo xa vời  khó tin nhất, chẳng hạn những báo cáo về việc phá ngục sắp tới hay cả việc cho là có những kẻ thù đang lên kế hoạch bắn đại bác vào thành phố từ những ngọn đồi chung quanh. Vì thế, họ đã tháo bỏ được những nỗi lo sợ  ngay khi chúng vừa mới chớm nổi lên.

Ngay trước khi tiếp xúc với ngài thị trưởng, nhiều khu phố đã bung ra hành động. Như có cơ hội, nhiều nơi sáng hôm đó đã có cuộc họp để bầu cử một  cơ chế lập pháp mới. Khi lời tuyên bố tình trạng khẩn cấp tới tai, họ lập tức  tự tuyên bố đó là phiên họp  thường trực và huy động ngay các đơn vị vệ binh trong khu vực họ. Lần đầu tiên trong đời, những công dân hạng hai đáng thương, những người quá nghèo khó để có được quyền bầu cử được chào đón niềm nở để tham gia vào các đơn vị. Một số cư dân trong đám này tự trang bị vũ khí cho  mình bằng việc đột nhập vào những kho vũ khí của chính quyền. Một số khu vực còn đi xa hơn khi tuyên bố hoàn toàn kiểm soát lực lương bán quân sự địa phương và từ chối nghe theo lệnh của Lafayette, viên tướng mà nhiều người nghi ngờ là có liên quan đến sự biến mất của hoàng gia.  Viên tướng và các lãnh đạo thành phố đã từ lâu nghi ngờ về tư tưởng cấp tiến của nhiều khu vực và tạm thời họ có thể tái khẳng định uy thế của họ đối cới toàn thể các đơn vị vệ binh và ngăn cản việc tạo ra các nhóm bán quân sự độc lập. Nhưng ngay trong cơn khủng hoảng quốc gia, hội đồng thành phố đành tỏ ra bao dung với các phiên họp thường trực của các khu vực và tạm chấp nhận lời tuyên bố của họ về những đơn vị quản trị ngoại vi. Đây là một tiền lệ có ý nghĩa. Trong vòng thời gian một năm sau biến cố Varennes, những khu vực này đã phát triển thành các nền tảng hợp hiến chính của tổ chức  vũ trang cấp tiến “sans-culottes” (nhóm không quần chẽn), một lực lượng diều hâu đầu tiên trong việc lật đổ nhà vua và là một thế lực khủng bố tại Paris.

Điều tương đồng đáng kể khác đối với tương lai của cuộc Cách Mạng là một sự thay đổi về thái độ của dân đối với nhà vua. Trong suốt 2 năm đầu của cuộc Cách Mạng, vua Louis vẫn giữ được hình ảnh tích cực trong đại đa số cư dân Paris thuộc đủ mọi khuynh hướng chính trị. Khi các bà cô già của nhà vua di dân sang Rôme vào tháng Hai, một nữ hội viên của hội Anh Em thuộc Les Halles đã viết cho nhà vua: “Chúng thần dân yêu ngài như người cha tốt bụng, và chúng thần muốn cho ngài biết chúng thần buồn làm sao khi gia đình ngài bỏ rơi ngài.” Một tháng sau đó, khi Louis đang hồi phục sau một thời gian bị cảm cúm, đã có hàng núi tình cảm và lời chúc lành từ khắp Paris gửi đến, một niềm vui chung được đánh dấu bằng một buổi lễ tạ ơn tại  nhà thờ Đức Bà , một loạt súng đại bác chào mừng và một buổi trình diễn ánh sáng  đặc biệt suốt đêm của thành phố. Cái nguồn hận thù nghiêm trọng nhất trước khi có biến cố 21 tháng Sáu là  việc nhà vua từ chối tham dự thánh lễ do các linh mục “theo phe lập hiến” cử hành. Đây là sự trách móc quan trọng nhất đã trở thành độc lực cho các biến cố trong ngày 8 tháng Tư và kể từ lúc đó có một thái độ lạnh nhạt đối với nhà vua trong đám báo chí cấp tiến. Tuy thế, nhà vua đã nhanh chóng nhận ra sai lầm của mình và sửa chữa theo phương cách của ông (thực ra chỉ là để che giấu kế hoạch cho việc tẩu thoát). Hầu hết cư dân Paris đã sẵn sàng gợi lên một phương thức thử nghiệm qua thời gian gọi là: “một nhà vua tốt bị cố vấn xấu” và đổ cho lỗi lầm của ông là do chịu ảnh hưởng của đám quý tộc và hoàng hậu.

Nhưng qua cuộc trốn chạy của Louis, mọi việc hoàn toàn biến đổi. Không chỉ việc trốn chạy của vua làm cư dân Paris sững sờ, mà bức thư nhà vua viết để lại chối bỏ hầu hết mọi thứ về cuộc Cách Mạng và tuyên bố rằng sự đồng ý trước đây của ông với những luật lệ mới là vì bị ép buộc. Oelsner bị đánh động bởi một số người ông ta thấy họ đọc và thảo luận về lá thư của vua trên đường phố. Nơi đây, chính nét chữ viết tay của Louis, nhà vua đã xác định rõ ràng cuộc vượt thoát hoàn toàn là ý định của ông chứ chẳng phải tác phẩm của cố vấn nào. Bây giờ rõ ràng là vua Louis đã dối trá với thần dân. Lời tuyên thệ long trọng nhà vua thề hứa chỉ mới một năm trước, một lời thề trước mặt Thượng Đế và Quốc Gia để duy trì hiến pháp chỉ là sự gian trá.

Quả thực, kể từ sau ngày 21 tháng Tư, thật khó tìm được một tờ báo nào, ngoại trừ các tờ có truyền thống bảo hoàng, có được bất cứ gì viết tích cực cho nhà vua. Tờ Chronique de Paris viết về sự phản bội trí trá của nhà vua, về sự tàn bạo và sự giấu diếm màn trốn chạy của ông. Tờ báo Journal de Perlez trung dung hơn, đóng vai trò mâu thuẫn giữa những tuyên bố trước đó của nhà vua và tuyên ngôn mới của ông.  Viên ký giả hỏi: “Làm sao người ta còn có thể tin vào những gì vua nói được nữa?” Cái phản ứng cay nghiệt, sự ngập tràn khinh bỉ, sự quay lưng ngoảnh mặt cùng sự  ghê tởm đối với nhà vua in sâu vào tâm trí những nhà quan sát đương thời. Một vài bài tường thuật còn bình luận về thái độ hèn nhát khi nhà vua bỏ rơi quan lại trong triều cùng những người ủng hộ hoàng gia càng làm đám đông phẫn nộ đến cực độ. Trong số hàng đống các tựa đề báo và các tờ rơi, trong ba tuần lễ kế tiếp có trên một trăm bài được xuất bản mà nhà vua bị gán cho là kẻ phản bội, tên gian trá, kẻ hèn nhát hay đơn giản Louis lầm lạc. Nicolas Ruault, một học giả và là nhà bán sách Paris cũng phát biểu: “ Thử nghĩ đến những diễn đạt thấp kém nhất mà bạn cho rằng họ có thể  xử dụng và bạn vẫn đánh giá thấp những gì họ thực sự nói ra.” Nhà báo Thuỵ Sĩ Etienne Dumont cũng đồng tình: “Chẳng có gì hình dung hết những nhục mạ cứ được lập đi lập lại không chút khoan dung với đầy sự khinh bỉ một cách lạnh lùng.”

Cánh những người Paris cấp tiến, sẵn có sự nhạy cảm với những mưu đồ, nên họ cảm thấy vô cùng lúng túng, có lẽ  cả hổ thẹn. Làm sao họ có thể có mắt như mù, hay đã bi ru ngủ đế nỗi sự việc rõ ràng mà không thấy được một âm mưu to lớn như vậy?” Jacques-Pierre Brissot, một gương mặt chính trị và là một ký giả phản đối: “Chúng ta tin tưởng vào lời lẽ của vua. Chúng ta bị những lời nói hay ho lừa phỉnh. Chúng ta có thể bị mang tội khi dám tỏ ý nghi ngờ lời hứa của nhà vua. Giờ này, ông vua “yêu nước” của chúng ta chạy trốn. Mặt nạ rơi xuống rồi nhé!” Có vô vàn những tài liệu tham khảo đề cập đến nhà vua như một kẻ không trung thực với những thề hứa của mình. William Short khám phá rằng mọi cư dân Paris nói về nhà vua đại khái như: Louis tên phản bội, Louis tên bất tín. Tờ Chronique de Paris viết: “Ông ta trốn chạy bỏ mặc những lời hứa hẹn không thành thật của ông. Ông lại chọn thời điểm trốn chạy ngay vào thời điểm chuẩn bị kỷ niệm lời tuyên thệ toàn quốc trước trời đất và sự hiện diện của đất nước, một đất nước đã từng tha thứ những lỗi lầm trước đó của ông. Nhóm Codeliers trích dẫn một đoạn văn từ Brutus, một vở kịch nổi tiếng của Voltaire:

 Hãy nhớ lại một ngày, dưới bàn thờ tháng Tám
Louis thề hứa sẽ mãi mãi trung thành và công chính.
Nhưng sự ràng buộc giữa thần dân và ngai vàng cung kính.
Ông gạt bỏ lời thề và phản bội chính ông

Không có chứng cớ nào rõ ràng hơn về sự phẫn nộ sâu sắc này bằng việc thay đổi các biểu hiện của nhà vua. Trước khi có biến cố Varennes, hình ảnh nhà vua được chạm khắc vào tường nhà và tiệm quán khắp nơi  tại Paris. Nhưng lúc này, tất cả đã bị tháo bỏ trong đêm, với một số lượng lớn, nghe nói được quăng xuống mương cống một cách công khai. Quả thực, đây là một sự sửa chữa nổi bật về hình ảnh được dùng cho biểu tượng nhà vua. Hơn thế nữa, ông còn bị tô vẽ như một con súc vật, đặc biệt như một con heo. Điều này rõ ràng muốn ám chỉ đến cái tật ăn uống quá độ của Louis, một cái tật đã từng được coi là “đáng yêu”, nhưng bây giờ bị coi là “đáng tởm.” Trong nhiều tuần kế tiếp, ông “vua heo” xuất hiện khắp nơi trên báo chí, tờ rơi, áp phích và trong điêu khắc chạm trổ. Thông thường, người ta vẽ nguyên một gia đình toàn heo: Ông vua heo Louis bên cạnh hoàng hậu heo và một lũ heo con. Có ai đó còn cả gan dán một tờ áp phích biếm hoạ lớn đó lên tường của hoàng cung Tuileries ngay sau chuyện nhà vua chạy trốn với chú thích: “Một con heo bự vừa mới trốn thoát khỏi chuồng. Ai thấy nó yêu cầu đưa nó về lại chuồng gấp. Xin hậu tạ.”

Sự ra đời của nhóm Sans Culottes (nhóm nổi dậy không quần)


Đã gần nửa đêm ngày 22 tháng Sáu , cư dân Paris  biết rằng nhà vua”heo” của họ quả thực  sẽ trở lại “chuồng.” Vào khoảng 10 giờ rưỡi tối, ông thợ hớt tóc Mangin, người được phái từ Varennes  gần 24 giờ trước đó  cuối cùng đã đến Paris. Vừa cỡi ngựa trên đường phố ông vừa la: “Đã bắt được nhà vua! Nhà vua đã bị chặn lại!” Thân hình phủ đầy bụi và gần kiệt sức sau một hành trình dài không nghỉ, ông ta trình diện Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia với một bản phúc trình và đồng thời kể lại sơ sơ một cách không chính xác lắm về những sự việc xảy ra trong thị trấn của ông. Lời kể được một số cư dân đi theo ông vào gặp gỡ Hội Đồng biến đổi thêm thắt và rồi họ vội vã quay về thưật lại cho bạn bè nghe. Nhưng chẳng bao lâu tin tức nhà vua bị bắt lại đã lan truyền mau chóng khắp thành phố. Hầu hết mọi người đã lên giường. Nhưng họ vội bật dậy vì tiếng ồn ào bên ngoài và lướt đến cửa sổ hay ùa xuống đường để hỏi thăm thêm chi tiết và rồi trăn trở suốt cả đêm về những tình huống khác nhau không ngờ tới có thể xảy đến của biến cố này. Lúc này họ đã đinh ninh là hoàng gia có lẽ đã ra tới ngoại quốc và điều đó chắc sắp được tuyên bố. Sự bắt giữ xảy ra trong một thị trấn nhỏ  tại Lorraine ra vẻ như một kỳ tích, mang lại một cảm giác hân hoan mới, đầy tự tin và uy lực. Một lần nữa, dường như vận mạng,  hay có lẽ chính Thượng Đế đang đứng về phía Cách Mạng.
Như một sự ngẫu nhiên, hôm sau là ngày lễ Thánh Thể, một đại lễ mừng kính mình thánh Chúa và là một trong những ngày lễ trọng theo lịch Phụng Vụ Công Giáo. Kế hoạch mừng lễ đã có trước nhiều tuần như chương trình sắp xếp mỗi năm, là sẽ rước Thánh Thể quanh khắp 52 giáo xứ của thành phố qua các con đường được trang trí sặc sỡ với băng rôn, hoa lá và nhiều đồ trang hoàng khác. Người ta hát thánh ca và đi rước diễn hành với đoàn vệ binh theo sau bước chân hàng giáo sĩ, theo sau nữa là các hội tôn giáo của đủ loại nhóm dân lao động với băng rôn cờ quạt của họ. Buổi tối có pháo bông và lễ hội ăn mừng.

Nhưng bây giờ đại lễ đã biến thành buổi lễ dân sự ăn mừng sự việc bắt giữ nhà vua. Sự kiện quy mô nhất trong toàn buổi lễ diễn hành  là sự kiện đi rước vòng quanh khu vực thánh đường Saint-Germain-l’Auxerrois, một cấu trúc Gothic ngay phía Đông của điện Louvre và là giáo phận chính thức của hoàng thành Tuileries. Buổi diễn hành hàng năm được đề ra bao gồm nhà vua cùng hoàng gia tham dự cũng như đa số các đội ngũ thuộc Hội Đồng Cách Mạng và hàng trăm vệ binh quốc gia tinh nhuệ nhất do chính tướng Lafayette  dẫn đầu. Nhưng với sự vắng mặt của nhà vua, và giờ với tin ông bị bắt giữ lại, giòng âm nhạc thánh ca đã được thay thế bằng những bài ca ái quốc.  Trên hết, các quan sát viên thật ấn tượng với bản hùng ca Cách Mạng phổ thông rất mạnh mẽ, quyết liệt và đầy lạc quan “Mọi sự thành công, mọi điều tốt đẹp” được trình bày lập đi lập lại. Vị linh mục “ái quốc” Thomas Linder, người có mặt và lần đầu tiên được nghe bài ca đã chúc mừng người nhạc sĩ vô danh đã giúp kích động thêm lòng can đảm của công dân Pháp và nhen nhúm lại tinh thần lạc quan của họ. Không một ai bỏ sót một biểu hiện thực tế là các đại biểu của Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia đã thay thế vị trí trong đoàn diễn hành của nhà vua, lúc này vẫn còn đang rong ruổi ở Champagne trong cỗ xe ngựa trên đường trở lại Paris. Một nhật báo ghi nhận rằng sự xuất hiện của Hội Đồng Cách Mạng đã là một thắng lợi rõ ràng. Bên đường, tiếng vỗ tay chào mừng và những tiếng la hét vui mừng hân hoan hoà lẫn với tiếng nhạc của đội vệ binh quốc gia.

Dù là có kế hoạch hay chỉ là ngẫu hứng, nhiều vệ binh có mặt trong đội đi diễn hành phía sau đại biểu Hội Đồng Cách Mạng khi trở lại hội trường đã xin được  tuyên thệ trung thành với hiến pháp mới mà Hội Đồng vừa mới soạn thảo hôm trước cho các đại biểu thuộc giới quân sự. Sau bữa ăn tối, những vệ binh khác từ khắp thành phố đã tụ họp vào hội trường yêu cầu được thề hứa tương tự.  Sự việc dường như do Lafayette đạo diễn, người đang lo lắng tìm cách lấy lại uy tín với những người yêu nước sau vụ không ngăn cản được cuộc trốn chạy của hoàng gia.  Thế nhưng viên tướng đã không tiên liệu cho sự việc đáng kể kế tiếp. Dường như sống lại thời khắc diễn hành trong ngày với sự biến đổi hoạt động tôn giáo thành một hành động chính trị, người dân thường Paris tiến về hội trường thành phố khi hoàng hôn buông xuống và cũng yêu cầu được phép tuyên thệ.  Các nhạc công bèn choán những hàng ghế trống ở bên phải hội trường nơi mà trên nguyên tắc là vị trí của các đại biểu bảo thủ và quý tộc, nhưng họ thường vắng mặt.  Một lần nữa, ban nhạc cất lên bản nhạc hùng ca đã hát ban ngày cùng những bài ca ái quốc khác. Từng hàng người nối đuôi nhau bước qua sảnh đường lung linh nến, đi từ một ngưỡng cửa này qua cánh cửa khác, vừa cất cao giọng hát vừa đưa tay lên thề hứa khi họ đi ngang qua vị chủ tịch của Hội Đồng Cách Mạng. Cũng vẫn trong sắc thái ngày lễ, quần áo họ ăn vận đủ kiểu đủ màu sắc. Có những người mặc quân phục vệ binh, nhưng có rất đông dân thường với nam trong bộ đồ lao động và nữ với khăn choàng và mũ nón làm bếp, những “Sans Culottes”, giờ thành cái tên gọi của nhóm họ. Họ đi qua hội trường, tập hợp thành hàng sáu gồm đủ thứ thợ thuyền từ ông bán thịt, thợ mỏ than, bà bán cá đến thợ làm bánh với những ổ bánh mì cắm trên đầu ngọn giáo hay đám phu khuân vác với cái nón rộng vành đến từ khu chợ trung tâm. Họ cả nam lẫn nữ đủ mọi lứa tuổi, mọi thành phần nghề nghiệp, vài bà mẹ còn bồng con trên tay khi họ bước tới tuyên thệ, dường như cả thế hệ sau cũng cố tham gia vào việc trung thành với đất nước này. Họ đi trong vòng trật tự kéo dài khoảng ít nhất 2 giờ. Guittard ước lượng có chừng 15,000 người. Có người lại ước đoán lên tới 50,000. Các vùng ngoại ô lao động Saint-Antoine và Sainte-Marcel đặc biệt hiện diện đông đảo. Marie-Leanne Roland, 37 tuổi và là vợ của nhân viên hành chánh trong vùng và chính bà cũng là một nhà Cách Mạng cấp tiến rất nhiệt tâm đã tuyên bố rằng hầu như toàn vẹn khu Sainte-Antoine đã đến xếp hàng nối đuôi nhau dọc theo đường phố dài đến trên dưới 2 dặm.

Sau những giờ phút dài lo sợ bất trắc, đêm lễ hội đầy màu sắc này đánh dấu sự  thư giãn và dường như củng cố lại cái cảm giác đầy tự tin và sự đoàn kết. Rõ ràng một phần là có sự huy động của các hiệp hội Anh Em và các phần tử cấp tiến. Người dân thường hiện diện cũng được trang bị với những thông điệp chính trị rất kiên quyết. Có người mang băng rôn kẻ chữ: “ sống tự do hay chết”. Những người khác chế thêm lời cho bản nhạc hùng ca “ҫa ira”, đòi  đưa giới quý tộc và nhà vua xuống địc ngục. Mặc dù nói chung, sự trung thành của họ  bày tỏ trực tiếp đối với Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia, họ cũng  nói rõ  là họ không có ý định phục tùng mọi quyết định của Hội Đồng nếu  họ không vừa ý với những quyết định đó . Có người la lớn: “Hoan hô các đại biểu chính phủ tốt, còn những người khác  hãy coi gương đó!” Mặc dù thái độ của họ nói chung rất vui vẻ, người ta vẫn thấy họ mang theo đủ mọi loại vũ khí từ búa liềm tới gươm giáo. Nhiều ngọn giáo có trên đầu bọc trong cái mũ đỏ tự do, loại mũ được giới lao động thợ thuyền yêu nước chọn làm biểu tượng.  Nhưng bên dưới cáí mũ đỏ đó là những mũi giáo sắc như dao cạo và những câu liêm thường được dùng để móc chân ngựa kỵ binh nhưng mới đây còn được dùng để cắm thủ cấp của những nạn nhân các vụ bạo động. Một số thương giáo này hầu như đã bị cướp đi từ những kho vũ khí trong thành phố hai ngày trước. Đây là lần đầu tiên loại vũ khí này được nhìn thấy mang vào Hội Đồng kể từ sau biến cố bi thảm tháng Mười năm 1789. Vì vậy, trong một ý nghĩa mang tinh biểu tượng, cuộc diễn hành lạ thường này đánh dấu một thời khắc chính thức về sự xuất hiện của phong trào “sans Culottes” như một lực lượng chính trị có ý thức và  có tổ chức . Nó trở nên một lực lượng mà Hội Đồng Cách Mạng cùng toàn thể nước Pháp không lâu sau đó  phải để ý đến.

Có thực sự cần có một vị vua?


Trong hơn ngàn năm, người dân Paris luôn luôn có một vị vua cai trị. Theo nguyên tắc, khi vua băng hà, người khác nối ngôi, thường một nam nhân thân cận nhất của vua lập tức nắm lấy vương quyền, ngay cả khi nhà vua kế vị chỉ là một đứa trẻ, vương quyền sẽ được hội đồng nhiếp chính nắm giữ. Nhưng trong lúc này, đối với đại đa số cư dân Paris, cái huyền thoại về vương tước vỡ tan. Một khi Louis được đưa trở lại Paris từ Varennes, đi qua đường phố Paris và  đưa vào hoàng thành Tuileries như trước, một câu hỏi lớn trong đầu mọi người rằng nhà vua và vương triều sẽ ra sao. Nhà xuất bản sách Nicolas Ruault ước đoán tình trạng này trong lá thư gửi cho anh em ruột của ông: “Chúng ta phải quyết định sẽ làm gì với ông vua này, ông vua giờ chỉ còn là cái danh hiệu mà thôi. Câu hỏi vừa tế nhị vừa cực kỳ đáng sợ. Tất cả mọi cư dân Paris đều nghĩ đến tình trạng này và có đưa ra nhiều giải pháp. Cứ để cho Louis làm vua, nhưng chỉ làm vua trên danh nghĩa. Nhà vua cần bị tước đoạt hết mọi quyền lực cho đến khi Hiến Pháp mới hoàn thành, sau đó ngôi vua được định đoạt có còn cần thiết hay không. Có đề nghị đòi đưa Louis đi khỏi Paris hay ra khỏi nước. Nhà vua phải bị giam giữ và đưa ra toà xử tội phản quốc. Lại có đề nghị truất phế nhà vua và đưa  người kế vị lên thay thế, và phải là người được giáo dục tốt về những tư tưởng Cách Mạng. Nhưng ngay từ ngày đầu tiên hoàng gia chạy trốn và trong suốt khoảng thời gian khủng hoảng, một số người dân Paris còn đi xa hơn. Họ tự hỏi là chế độ quân chủ có thực sự còn cần thiết không? Và có phải đã là thời điểm mà người dân Pháp có thể sống độc lập trong một thể chế cộng hoà không cần có vua?

Chắc chắn là, đây không phải là lần đầu tiên từ ngữ “cộng hoà” được nói đến tại Paris. Gần một năm trước, Louis Lavicomterie, một thành viên tương lai của hội nghị đã xuất bản một xã luận có tựa “ Về nhân dân và các vị vua”, với tư tưởng công khai ủng hộ một chính quyền không có vua. Louise Kéralio, nhà văn, kiêm sử gia và nhà xuất bản cấp tiến nhanh chóng nắm bắt ý tưởng đưa vào trang nhật báo Mercure Nationale của bà, một tư tưởng mà Franҫois Robert chồng bà phát triển xa hơn vào trong một tập sách nhỏ vào cuối năm, Vào mùa xuân 1791, khái niệm cộng hoà đã trở nên hợp thời trang được bàn luận rộng khắp giới trí thức cấp tiến. Dù vậy vẫn luôn luôn có những quan ngại nào đó về tính cách hàn lâm của khái niệm này trong các cuộc tranh luận.  Mối bận tâm chính của đám cấp tiến vẫn tiếp tục là vấn đề mở rộng quyền bầu cử cho mọi nam công dân, bất kể lợi tức thường niên của họ.  Và cái tư tưởng một nền chính trị nước Pháp không có vua cai trị vẫn chưa thực sự có sự ủng hộ phổ quát. Viên quận công trẻ de Chatres, người sau này trở thành nhà vua Louis-Philippe của nước Pháp vào năm 1830 đã diễn tả các phản ứng của  đám đông yêu nước như một vở kịch diễn Brutus của Voltaire. Khi một kịch sĩ diễn câu: “Nào, chúng ta cần có tự do không cần vua”, thì chỉ vài tiếng vỗ tay lèo tèo, trong khi đại đa số gào lên: “Vạn tuế đức vua”, câu tung hô luôn được đám đông  hô lên trợ giúp với ba khẩu hiệu: “ Tổ quốc muôn năm,  pháp muôn năm và Hoàng Thượng muôn năm.

Dù vậy, biến cố Varennes đã mang lại một thay đổi bi thảm trong thái độ của cư dân Paris. Chỉ trong vài tiếng khi tin tức  được tiết lộ, một màn tấn công rộng rãi vào các biểu hiệu của hoàng gia khắp nơi trên đường phố  Paris.  Bất cứ gì có liên quan đến hoàng gia đều bị đập phá, tháo gỡ, che phủ hoặc bôi xoá. Kể cả những gì có dính líu đến tên tuổi hoàng gia với bất cứ hình thức nào, chẳng hạn Khách Sạn Nữ Hoàng hay nhà hàng với tên Bò Đội Vương Miện đều có dấu vết bị phá hủy.  Huy hiệu của dòng họ Bourbon trên các công thự hay các văn phòng công chứng đều bị bôi đen bằng dầu trộn nhọ nồi. Quân lính và vệ binh được khẩn thiết yêu cầu tháo bỏ các huy hiệu cũ trên bộ quân phục của họ. Một số tài sản hoàng gia bị kéo đổ. Những tượng đài quá to lớn không thể di chuyển bị vải đen che phủ. Ngay cả một con đường mang tên Phố vua Xiêm (Siam) cũng bị đổi tên mới có ý nghĩa yêu nước hơn. Marie-Jeanne Roland đã rất kinh ngạc và thích thú bởi sự nhanh chóng lạ thường với cái tư tưởng mới dường như đã chiếm trọn các khu phố lao động. Hôm 22 tháng Sáu bà viết: “Đám đông đã có sự hiểu biết mạnh mẽ và đúng đắn. Từ ngữ “cộng hoà” giờ được thốt ra trên môi của mọi người. Thêm vào sự việc thường dân tự phát tấn công vào các biểu hiệu của vương triều, một số đáng kể giới trí thức Paris, các khuôn mặt chính trị, các chủ bút báo chí cấp tiến công khai tuyên bố  ủng hộ cho một nền cộng hoà. Chỉ trong vài ngày, nhiều ký giả nổi danh nhất cũng ra mặt ủng hộ tư tưởng cấp tiến này. Brissot là người đáng nể nhất khi ông ta nhục mạ vua Louis với lời lẽ như là: “Nhà vua đã tự tay hủy hoại chính ngai vàng của mình. Không ai có thể cảm hoá một kẻ độc tài tiến tới một nguyên lý tự do.” Nicolas de Bonneville, một nhà văn và sáng lập hội “nhân dân thân hữu của sự thật” cũng bắt đầu minh chứng cho một nền cộng hoà. Cùng với các bạn của ông, hầu tước de Concorde, nhà toán học nổi tiếng và Thomas Paine, một người Mỹ  theo phái tự do, ông cho ra đời một nhật báo để hết lòng cổ võ cho tư tưởng cộng hoà. Và như tu viện trưởng Sieyès viết cho Paine: “Chỉ với những sự việc như biến cố ngày 21 tháng Sáu mà chúng ta bỗng nhiên nhìn thấy sự xuất hiện của một đảng phái cộng hoà.

Ngay từ đầu, sự lãnh đạo hữu hiệu và năng động nhất cho một đảng phái như vậy đến từ câu lạc bộ Codeliers với các thành viên bao gồm nhiều ký giả, những người mạnh mẽ thừa nhận tình thế mới mẻ. Chính trong ngày nhà vua bỏ trốn, câu lạc bộ đã có câu trả lời cho toàn bộ tư tưởng của một thể chế quân chủ lập hiến khi nó đã được Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia nghiên cứu soạn thảo trong 2 năm qua. Các thành viên của câu lạc bộ dường như thừa nhận một chiến lược có 2 hướng. Một mặt, họ thúc giục các đại biểu Hội Đồng tái phác thảo Hiến Pháp theo đường hướng cộng hoà. Mặt khác, nhận thức rằng đa số công dân Pháp vẫn có thể chống đối một biện pháp như vậy cho tới khi tất cả họ được thông tin và giáo dục thật rõ ràng, các thành viên ủng hộ một cuộc trưng cầu ý dân trên toàn quốc để có những tranh luận cho vấn đề. Trong một thỉnh nghuyện thư chính thức gửi tới Hội Đồng, họ viết: “Thưa các nhà lập pháp, quý ngài không còn hy vọng gì gây cảm hứng cho nhân dân để có một mức độ tín cậy tối thiểu trong một đất nước được vận hành bởi một người gọi là vua nữa. Căn cứ vào dữ kiện này, chúng tôi xin các ngài, dưới danh nghĩa Tổ Quốc, hoặc là tức khắc tuyên bố nước Pháp không còn thể chế quân chủ nữa mà là thể chế cộng hoà; hoặc ít nhất chờ đợi cho tới khi tất cả các bộ phận chính quyền và các hội đồng sơ cấp loan báo về ý nguyện của họ về  câu hỏi tối quan trọng này.” Sau đó,  Câu lạc bộ trở nên một cơn lốc sinh hoạt và năng lực trong việc cổ động và giải thích cho tư tưởng của họ. Các thành viên in ấn những tấm áp phích lớn, đem dán lên tường ở khắp nơi trong thành phố. Họ thúc giục tất cả các hội thân hữu Paris có sự liên kết mật thiết với họ để cùng điều hợp nỗ lực chung và cùng bàn bạc thảo luận để cùng chấp nhận một vị trí chung. Thêm vào đó, họ tổ chức các cuộc diễn hành chung các thành viên để cùng đưa thỉnh nguyện thư của họ đến Hội Đồng Cách Mạng.

Cuộc xuống đường ngày 24 tháng Sáu là một biến cố khác đánh dấu sự phát triển về tư tưởng cấp tiến phổ quát và việc chính trị hoá nhóm “Sans Culottes”. Trong một số khía cạnh, điều này được coi như cuộc xuống đường chính trị thời đại mới đầu tiên trong lịch sử Pháp, dự đoán theo cái hình thức và tinh thần của nó trong các cuộc xuống đường về chính trị tại Paris vào thế kỷ 19 và 20. Được điều hành qua mạng lưới xã hội phổ thông và các khu vực, người dân từ khắp Paris kéo nhau ra đường tiến về địa điểm tập trung tại công trường Vendôme.  Ban tổ chức dựa theo sự thành công của buổi diễn hành ngày lễ Thánh Thể hôm trước đi đến Hội Đồng. Trong ý nghĩa này, lại có một sự kết nối thích thú khác giữa một buổi rước sách tôn giáo thời chế độ cũ và một hình thái mới của văn hoá dân chủ tập thể. Nam nữ già trẻ đa số thuộc thành phần lao động, khoác tay nhau xếp thành hàng 7 hàng 8 bước đi trên đường, thỉnh thoảng lại cất tiếng ca hay hô khẩu hiệu. Nhiều người đeo huy hiệu trên tay hay trên áo bìểu hiệu cho tổ chức và nhiệm vụ của họ để tìm ra những kẻ âm mưu. Guittard de Floriban, một lão già tư sản sống không xa  cánh Cordeliers đứng nhìn cảnh tượng hàng ngàn người đi qua. Lúc đầu ông rất sợ hãi, lo lắng bạo động và hỗn loạn xảy ra. Nhưng rồi ông nhận ra rằng đoàn người rất điềm tĩnh và rất có trật tự. Không như đêm hôm trước tại trụ sở Hội Đồng Cách Mạng, lần này  không ai mang vũ khí, dù chỉ là một cây gậy. Ông ta đi theo họ khi họ băng qua sông trên cây cầu số 9 tiến về công trường Chiến Thắng nơi họ tụ họp tới hàng ngàn bgười đến từ phía đông thành phố. Tại công trường Vendôme, ngay mạn bắc của hội trường  của Hội Đồng Cách Mạng, họ gặp Lafayette, người đã được thông tin về cuộc xuống đường và đã tập trung một đội ngũ lớn vệ binh quốc gia với đại bác và súng trường sẵn sàng. Thế nhưng đoàn người giữ nguyên hoà bình và chỉ tuyên bố là họ muốn trình một thỉnh nguyện thư có 30,000 chữ ký lên Hội Đồng Cách Mạng. Sau một khoảnh khắc đối mặt một cách bối rối,  một nhóm 7 người đại diện đám đông được cho vào  trao thỉnh nguyện thư.

Những người đi xuống đường có lẽ chỉ thấy thất vọng khi Hội Đồng trì hoãn việc đọc thỉnh nguyện thư của họ vào ngày hôm sau. Theo như một thành viên của nhóm Cordeliers, khi thỉnh nguyện thư được trao, chỉ có một mình một tay thư ký đọc trong một tư thế mà “không một ai khác có thể nghe thấy” và sau đó gửi đến một uỷ ban nào đó để rồi bị quên lãng ngay. Hơn ba tuần lễ sau đó, nhóm Cordeliers và những hiệp hội thân hữu khác trong thành phố lại tiếp tục công việc vận động của họ.  Người ta đếm được có đến 17 thỉnh nguyện thư được tạo nên  trong khoảng 21 tháng Sáu đến 17 tháng Bẩy, cái nào cũng bị Hội Đồng từ chối và cho vào sọt rác thẳng tay. Trong suốt thời điểm này, nhóm Cordeliers và các hội thân hữu tiếp tục tranh luận hàng đêm về nhà vua và số phận xứng đáng cho ông. Bà Marie-Jeanne Roland, người mỗi đêm đều đến tham dự trong các buổi tranh luận có mời nữ giới tham gia đóng góp đó, đã rất ngạc nhiên khi bà chứng kiến một sự biến đổi những cái đã ăn sâu cả ngàn năm. Thường dân Paris chỉ mới vài năm trước luôn miệng đọc tiếng Amen một cách mù quáng với bất cứ chuyện gì được giới chức thẩm quyền phán ra, giờ đã được khai sáng và sẵn sàng ủng hộ chính nghĩa của họ và đòi hỏi một sự cai trị trong công lý. Bà phát biểu: “Chúng ta đang tiến bộ tới 10 năm chỉ trong một ngày”.

Hơn nữa, cuộc vận động cho cộng hoà của xã hội phổ thông còn có ảnh hưởng to tát hơn với hai điều phát triển khác. Đầu tiên, cuộc vận động cộng hoà xảy ra ngẫu nhiên cùng lúc với một loạt các cuộc xuống đường của công nhân mà người đương thời đánh giá là có tổ chức và dữ dội hơn bất cứ gì họ chứng kiến trước đó. Vào tuần lễ đầu tiên của tháng Bẩy, các vệ binh quốc gia được phái đi dẹp các cuộc  biểu tình chống đối lao động và các cuộc đình công diễn ra chẳng hạn  từ những người làm thuê mũ nón, thợ nề, công nhân làm đường. Các cuộc đình công lúc này đang bị cho là bất hợp pháp chiếu theo luật lao động Le Chapelier trước đây của Hội Đồng Cách Mạng. Gần như cùng lúc chính quyền thành phố, được sự hỗ trợ của Hội Đồng Cách Mạng cũng đã bắt đầu tháo bỏ một hệ thống lao động công ích đã khởi sự từ năm 1789 như là công việc cho những người bị thất nghiệp và giờ bị coi là quá mắc mỏ. Những hành động này đã gây nên những lo lắng và phẫn nộ lớn lao. Vì vậy, vào cuối tháng Sáu sang đầu tháng Bẩy, công nhân đã tổ chức các cuộc xuống đường phản đối, nhiều cuộc xuống đường biểu tình này cũng tụ họp tại công trường Vendôme. Mặc dù các phong trào lao động này ra vẻ không liên quan gì đến các biến cố chính trị, chúng cũng làm tăng cường độ của một bầu không khi khủng hoảng và tạo thêm năng lực cho phong trào Sans Culottes.

Thứ hai, nhóm Corfeliers và các nhóm thân hữu cùng với rất nhiều bộ phận cấp tiến khác tại Paris ngày càng tỏ ra tập trung sự giận dữ của họ vào chính cái Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia. Bực bội vì Hội Đồng đã rất ít quan tâm đến những thỉnh nguyện thư của họ, giờ họ lại càng nghi ngờ nhiều hơn về việc đối xử với nhà vua và hoàng gia sau khi họ trở về của các đại biểu, khi họ cho phép hoàng gia ở lại trong cung điện với đầy đủ người hầu và các cố vấn như chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Họ lại càng thêm thất vọng và giận dữ khi vào tuần lễ thứ hai tháng Bẩy, có tin rò rỉ ra là đại biểu Hội Đồng đang cứu xét việc miễn tội cho nhà vua. Từ các nhận thức bị tổn thương đưa đến hoang tưởng, phái Cordeliers cả nam cả nữ cùng thân hữu anh em bỗng cảm thấy trong Hội Đồng đang manh nha một âm mưu nào đó. Tin đồn lan toả rằng các đại biểu đã bị triều đình mua chuộc, rằng họ đã sửa chữa hay làm giả các lời khai riêng tư của nhà vua; đáng chú ý là lời khai của vua Louis rằng ông không bao giờ có ý rời bỏ đất nước.  Lại còn những tin đồn là đại đa số các đại biểu đang có kế hoạch ám sát những nhóm nhỏ các nhà cấp tiến trong Hội Đồng như Pétion và Robespierre, những đại biểu cảm thông với vị thế của Cordeliers. Giữa cơn khủng hoảng đó, Hội Đồng Cách Mạng đã trì hoãn việc bầu ra một cơ quan lập pháp mới. Và giờ lại có thêm tố cáo là các đại diện đã lợi dụng tình thế để tự kéo dài thêm thời gian nắm quyền của họ, giống như các thành viên của cái quốc hội trì hoãn của Anh Quốc vào thế kỷ 17.

Vào ngày 12 tháng Bẩy, nhóm Cordeliers và các thân hữu làm thêm một thỉnh nguyện thư. Hội đồng lại từ chối một lần nữa sau khi vị chủ tịch, Charles de Lameth chỉ mới đọc có vài hàng đã thông báo là vi hiến. Giận dữ vì sự sỉ nhục này mà nó gần giống như việc giới thượng lưu hạ nhục mà họ phải nhận chịu dưới thời chế độ cũ, và ngay chính bản thân Lameth cũng là cựu bá tước,  nhóm Cordeliers giải quyết bằng cách bỏ mặc Hội Đồng, họ trực tiếp đưa vấn đề ra trước công chúng Pháp. Họ bèn thảo một ‘bản tuyên cáo với Tổ Quốc” đem phát hành và phổ biến khắp đất nước, một bản tuyên cáo chẳng bao lâu được hầu hết các hiệp hội thân hữu ủng hộ. Cho đến lúc này, những người cấp tiến đã hết sức cẩn thận hành động trong phạm vi pháp luật, cố gắng tuân thủ các nghị quyết của Hội Đồng Cách Mạng trên các thỉnh nguyện thư và thông cáo hợp lệ tới chính quyền thành phố trước mỗi cuộc xuống đường. Nhưng thông cáo mới này có thể được coi như một lời kêu gọi xác thực nhất cho sự bạo loạn, định trước một cuộc triệu tập Hội Nghị Toàn Quốc vào mùa hè 1792. Các thỉnh nguyện viên đòi triệu hồi từng bộ phận trong 83 bộ ngành, các đơn vị quản trị của chế độ mới phải gửi phái đoàn đến Paris để hợp hiến một quyền hành pháp mới thay thế cho vương quyền, và có lẽ luôn cả quyền hành của Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia cho tới khi quốc gia giải quyết xong số phận của nhà vua và xác định một phương thức chính quyền mới. Họ cũng tố cáo việc các đại biểu đã từ chối cho phép tổ chức bầu cử xảy ra, một việc lạm dụng và vi phạm quyền hành trong chức vụ của họ. Các ban ngành cần phải ngay tức khắc và đơn phương  tổ chức bầu cử mới thay thế các đại biểu đương nhiệm đã hoàn toàn mất sự tin tưởng của quốc dân. Cuối cùng, các ban quản trị địa phương được hối thúc tổ chức các cuộc bầu cử này qua hình thức đầu phiếu phổ thông cho mọi nam công dân, bỏ qua điều luật của Hội Đồng Cách Mạng để có quyền bầu cử phải có khả năng đóng đủ thuế.

Trong cùng một thời gian, nhiều nhật báo cấp tiến đã có những thông điệp được phát thanh trong các quán cà phê và được  đọc ra rả suốt các con đường trong thành, giờ cũng  trực tiếp đề cập đến bạo loạn. Brissot nổi trận lôi đình chống lại Hội Đồng về vị thế của nhà vua như một tội lỗi, một sự vô lý, một sự tàn bạo. Fréron and Bonneville dự đoán sẽ có một cuộc bạo động đang đến gần. Một bài báo, có lẽ  do Pierre-Gaspard Chaumette của nhóm Cordeliers viết còn mạnh mẽ hơn. Tác giả nhắc nhở các đại biểu về số phận của viên thống đốc Paris trong vụ Bastille 1789, người đã bị đám đông bạo loạn chặt đầu khi ông ta dám chống cự lại ý dân. Tác giả viết: “Có những phút giây mà bạo lực trở nên nhiệm vụ thiêng liêng nhất.”

Ngày kỷ niệm Bastille 1791


Kỷ niệm năm thứ hai ngày phá nhà ngục Bastille rơi đúng vào giữa cuộc khủng hoảng. Mặc dù đã có một số người nói đến việc huỷ bỏ biến cố này sau ngày 21 tháng Sáu, các viên chức Paris cuối cùng vẫn quyết định tiếp tục với lịch trình ban đầu. Nhóm Cordeliers và nhóm Sans Culottes mới ra lò không thể nói thay cho cả một dân số thành phố phức tạp. Quả thực, một số đông cư dân Paris, bao gồm hầu hết các đại biểu của Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia đã rất kinh ngạc về những cuộc xuống đường thường xuyên như thế của công nhân lao động và đám người cấp tiến. Có một số thích thú với việc vua chạy trốn, còn hầu hết ra vẻ phẫn nộ với hành động nhà vua. Tuy nhiên, sự bạo động liên miên hay những hành vi hăm doạ bạo động của đám đông và những lời kêu gọi bạo động chống Hội Đồng của nhóm Cordeliers dù có che đậy cũng làm họ sợhãi và làm cho họ thận trọng hơn về việc thay đổi tận gốc rễ bản Hiến Pháp. Những trưởng lão của thành phố hy vọng rằng một sự nhắc nhở lại về ngày lễ toàn bang năm 1790 sẽ cách nào đó làm sống lại sự thần kỳ và sự đoàn kết của năm trước và cung cấp phương tiện cho các công dân đáng kính để phản bác lại các cuộc xuống đường của đám cộng hoà. “Nó sẽ là tiếng chuông báo động cho  bọn điên khùng muốn phá huỷ vương triều, cho bọn du thủ trộm cướp chỉ biết la hét đòi cộng hoà”, như một tay nhà báo trung lập diễn tả. Dù gì, cái vận động trường vĩ đại ở tại Champ de Mars phía tây thành phố cũng được nâng cấp để chứa thêm nhiều khán giả hơn năm trước, và ở trung tâm thành phố, đền thờ quốc tổ cũng được tân trang lại trong dịp này.

Buổi lễ hội toàn thành phố bắt đầu vào đêm 13 tháng Bẩy, với một buổi đại hoà tấu nhạc trong vương cung thánh đường Đức Bà, có sự tham dự của đủ loại chức sắc Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia và các cá nhân đã dẫn đầu trong cuộc tổng tấn công hai năm trước. Bài ca tạ ơn Chúa Te Deum  được hàng giáo phẩm ủng hộ Cách Mạng cất cao lời ca và nhạc sĩ Franҫois-Josrph Gossec tổ chức hoà nhạc bản nhạc bất hủ có tựa đề: The Fall of the Bastille. Lễ hội kéo dài qua sáng ngày hôm  sau với một đám rước dài khởi sự phát xuất từ 10 giờ sáng tại một địa điểm trước đó là nhà tù Bastille đi diễn hành qua thành phố. Đám rước dẫn đầu bởi Bailly và chính quyền thành phố, theo sau là một hàng dài các viên chức trong các bộ ngành hành pháp, tư pháp, quân đội cùng 48 khu quận. Tất cả đi xen lẫn giữa các ban nhạc và trống kèn, các đội vệ binh quốc gia và một mô hình Bastille được chở theo giống như một nghi thức tôn giáo trong các buổi rước kiệu thời chế độ cũ.  Đoàn diễn hành đi quanh thành phố trong hơn 3 tiếng ngang qua hội trường thành phố, đi xuống hữu ngạn sông Seine rồi băng qua sông gần khu hoàng thành Tuileries. Sau đó đi dọc theo khu tả ngạn Saint-Germain để tiến vào vận động trường. Khoảng 2 giờ chiều, khi mọi người đã vào vị trí, một thánh lễ bắt đầu với bài Te Deum được hát lên lần nữa dưới sự chủ tế của vị  giám mục thành Paris “ủng hộ lập hiến” vừa mới được bầu lên. Lễ hội kết thúc với một loạt các màn trình diễn quân sự của lực lượng vệ binh do chính Lafayette ngồi trên lưng con ngựa trắng điều khiển trực tiếp.

Biến cố ra vẻ thành công ở một số khía cạnh. Hầu hết người chứng kiến nghĩ rằng người tham sự cũng đông như năm 1790 hoặc hơn thế và không ai chối bỏ rằng vì thời tiết tốt hơn. Ngay từ sớm tinh mơ, bầu trời đã ấm áp  đẹp đẽ khác với cảnh mưa rơi lầy lội của năm trước. Thế nhưng cũng có đầy dấu hiệu thay đổi thái độ so với năm trước và giờ có những khác biệt quan điểm chính trị dữ dội đang chia rẽ cư dân Paris. Tuyên bố rằng vì quá bận rộn với  các cuộc tranh luận, Hội Đồng Cách Mạng chỉ đưa đến 24 đại diện thay vì toàn thể đại biểu tham dự như năm 1790. Điều rõ rệt nhất là sự vắng mặt của nhà vua và hoàng gia. Không ai còn nghĩ đến việc yêu cầu nhà vua đến lập lại lời thề với Hiến Pháp.  Một số nhân chứng còn chú ý đến những thay đổi  Bàn Thờ Tổ Quốc vào phút chót bởi những nghệ nhân vô danh nào đó. Có một bức hoạ điêu khắc “Chiến Thắng của Voltaire” với hàm ý một diễn tiến chống lại chế độ giáo phẩm chỉ mới được cử hành ít ngày trước để vinh danh ông tổ của thời kỳ Khai Sáng. Lại có một cảnh khác mà người mục kích cho rằng đó là  hình tượng của Drouet, người hùng trong vụ Varennes. Rõ ràng hơn hết, danh từ “đức vua” đã bị bôi xoá khỏi bàn thờ Quốc Tổ, giờ chỉ còn thấy “Đất nước, luật pháp,…(bỏ trống)”. Mọi liên quan đến nhà vua trong tất cả các cờ quạt của các đơn vị vệ binh đều được tháo bỏ. Nhiều lần trong buổi lễ, đám đông hô lớn: “Không còn Louis XVI nữa, không còn vua nữa.”

Cũng có những tường thuật về những căng thẳng và đủ hình thức bạo động trong 12 tháng trước. Nhà quý tộc xứ Creole đang viếng thăm nước Pháp tên Henri Paulin Panon Desbassayns đã mắc phải một sai lầm tệ hại khi mang trên người thập giá Thánh Louis, một huy hiệu biểu tượng giới quý tộc của chế độ cũ nên đã bị đám đông sỉ nhục và cư xử tồi tệ. Việc đối xử còn tàn tệ hơn nữa với 2 người ủng hộ hàng giáo phẩm “bướng bỉnh” dám ném đá lên bàn thờ Tổ Quốc. Khi diễn tiến mới khởi sự, một tin đồn lan toả rằng Hội Đồng Cách Mạng sẽ hưởng lợi với sự hiện diện của dân chúng tại công trường Champ de Mars trong việc bầu phiếu để xá tội cho nhà vua. Vì vậy, một số người vội vã quay trở lại hội trường thành phố. Thực ra, thành viên của nhiều hội quần chúng phổ thông kể cả nhóm Cordeliers đã không tham dự buổi lễ.  Họ đưa thẳng người của họ đến Hội Đồng từ trước để tiếp tục xuống đường chống lại các chính sách của Hội Đồng và trình lên một thỉnh cầu nữa. Một lần nữa họ đòi hỏi các đại biểu không đưa ra quyết định gì về việc nhà vua cho đến khi toàn thể công dân cả nước được tham khảo qua một cuộc trưng cầu ý dân. Lần này họ còn đi xa hơn. Họ tranh cãi rằng bộ phận tối cao thực sự của đất nước không phải là Hội Đồng Cách Mạng  mà là nhân dân. Và họ tiếp tục rằng việc chối bỏ không chịu thừa nhận cái thực tế  này có thể  sẽ dẫn đến màn nội chiến.


Rõ ràng mọi con mắt đổ dồn vào các đại biểu của Hội Đồng Cách Mạng Quốc Gia. Những người mà chỉ vài tháng trước còn được công bố như “các người cha của đất nước,” giờ đang bị khiển trách và đe doạ dấy loạn bởi một thiểu số lớn họng trong dân chúng Paris. Lúc này, Hội Đồng Cách Mạng không còn  lựa chọn nào khác ngoài việc phải hành động.